30 NĂM XA XỨ
Kính tặng thi sĩ
Vương Ngọc Long và thầy Tạ Quốc Bảo
Nguyễn Quư
Đại
Qủa địa cầu chứa nhiều
tỉ người sinh sống khắp năm châu bốn bể.
Đời sống thường bị thiên tai, chiến
tranh, nên có những đổi thay trong sinh hoạt như tị
nạn, di cư và định cư giống như chim én
t́m mùa xuân. Nguồn gốc người Việt ở miền
Bắc tiến về phương Nam lập quốc từ
Nam Quan đến Cà Mau, dù dân tộc Việt Nam bị ngàn
năm Bắc thuộc, gần trăm năm nô lệ giặc
Tây, nhưng người Việt đoàn kết chống ngoại
xâm dành lại độc lập và giữ ǵn bờ cơi,
người Việt yêu ruộng lúa bờ dâu, đ́nh làng,
lăng miếu.. không ai muốn rời quê hương,
nhưng có nhiều trường hợp phải bỏ
nước ra đi
Biến cố lịch sử Việt
Nam, đă có những đợt người Việt phải
đành xa quê hương ! Đầu thế kỷ thứ
13 đời Lư có hoàng tử Lư Long Tường con vua Lư Anh
Tông (1138-1175), em vua Lư Cao Tông (1176-1210) và chú của vua
Lư Huệ Tông (1211-1224). V́ sự ngược đăi của
Trần Thủ Độ, con cháu nhà Lư bỏ trốn,
trong đó có Lư Long Tường ra đi không phải để
cầu viện như vua Lê Chiêu Thống. Ra đi để
bảo tồn sinh mạng lo việc thờ cúng tổ tiên. Ở Thụ Hàn Môn (Bắc Cao Ly) c̣n
lưu lại năm Bính tuất 1226 niên hiệu Bảo
Khánh (đời Tống) trong nước có loạn, việc
thờ cúng tổ tiên nhà tông miếu bị hủy bỏ,
ông là chú vua, khóc ở miếu Nam Binh, rồi đem đồ
tế khí ở bàn thờ tổ tiên cùng 40 người chạy
về hướng đông đến Nam kinh, sau
đó sang Cao Ly, Đại Hàn ngày nay lập nghiệp. Lư Long Tường đă có công giúp Cao
Ly chống lại quân Mông Cổ, năm 1253
(quư sửu). Để tưởng nhớ chiến công của
vị hoàng tử Việt Nam. Năm 1711, người
Cao Ly dựng tấm bia ghi công trạng họ Lư, nhờ thế
800 năm sau con cháu mới biết được tổ
tiên ḿnh là một hoàng thân họ Lư từ Việt Nam tị
nạn. Con cháu họ Lư có nhiều
người học giỏi đỗ đat làm
quan như Lư Huyền Lương, giữ chức lễ
Bộ Tham Nghị Thượng Thư, Lư Long Tuyền làm
Giám Tu Quốc Sử ..Sau khi Cao ly chia đôi 1953 . Con
cháu họ Lư chia làm hai. Một nhánh ở tỉnh Hoàng Hải.
Một di cư xuống phiá Nam vĩ tuyến 38 lập nghiệp
Hán Thành, và Đông Ḥa
Trước năm
1975 ông Lư khánh Huân đời thứ 25 về Sàig̣n để
t́m lại cội nguồn tổ tiên, thời chiến tranh
chính quyền Việt Nam, không giúp đỡ được
cho đến năm 1994 ông Lư Xương Căn con Lư Khánh
Huân đời thứ 26 đến Việt Nam t́m được
nguồn gốc ở làng Đ́nh Bảng Bắc Ninh.(1) Hàng
năm những ngày tế lễ cổ tuyền người
Đại Hàn gốc Việt thường đánh những
hồi chiêng trống quay đầu về hướng Nam
để tưởng nhớ nguồn gốc của ḿnh .
Năm canh th́n 1400,
Lê Qúy Ly đảo chánh nhà Trần, lên ngôi lấy lại họ
Hồ và lập ra nhà Hồ (1400-1407), dưới
triều họ Hồ có thể trong thời gian này con cháu nhà Trần sang Trung Hoa lánh nạn.
Khi nhà Minh xâm lăng nước ta năm 1407 với danh hiệu
“phù Trần diệt Hồ“
bắt gia đ́nh họ Hồ và các quan như Nguyễn Phi
Khanh (1355-1428) đưa về nước? Nhà Minh đặt ách cai trị nước ta, con thứ
Trần Nghệ Tông (1370-1372) nổi lên chống quân Minh ở
Ninh B́nh, và Trần Quư Khoách cháu nội
Trần Nghệ Tông khởi nghiă ở Nghệ An (1409), cả
hai đều bị bắt năm 1413 giải về Tàu…. Bác sĩ Trần Đại Sĩ định
cư Pháp, sang Trung Hoa làm việc có cơ hội t́m lại
con cháu họ Trần v́ lư do chính trị đến sinh sống
nhiều thế kỷ ở Trung Hoa, không có cơ hội trở
về cố quốc .
Thời kỳ chống
Tây, nhiều nhà cách mạng Việt Nam lánh nạn ở
Trung Hoa, mưu cầu ngày khôi phục quê hương. Tôn Thất
Thuyết (1835-1913) quan đại thần dưới triều
vua Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch 1872-1943), khởi
nghiă chống Pháp đêm ngày 4.7.1885 thất bại, ông phải
đến Long Châu và chết già ở đó. Phạm Hồng
Thái (1896-1924) ám sát tên thực dân Pháp Toàn Quyền Đông
Dương Martial Merlin ngày 18.6.1924 tại khách sạn
Victoria phiá bắc thành phố Sa Diện thất bại phải
gieo ḿnh xuống ḍng Châu Giang. Nhiều
nhà cách mạng Việt nam như Phan Bội Châu (1867-1940),
Cường Để (Nguyễn Phúc Hồng Dân 1882-1951)
…đến Hoành Tân Yokohama, Trần Trọng Kim (1882-1953) sang
Singapore và Thái lan…Năm 1933 ở Đức th́ nhà khoa học
Albert Einstein (1879-1955) sang New york.
Brandt Willy (1913-1992) chạy sang Na Uy tị nạn chính trị, sau
này về làm thủ tướng Đức nhiệm kỳ
(1969-1974)
Thời thuộc điạ,
người Việt từ miền Bắc sang Lào sinh sống
ở thủ đô Vientiane, họ làm việc cho Tây hay kinh
doanh thương măi, bản tính người Lào hiền nên
đời sống người Việt ở đó an
cư lập nghiệp. Ở Campuchia cũng có cư dân
người Việt phần đông các tỉnh phiá Nam, sinh
sống trên biển Hồ Tonlé Sap hay thủ đô Phnom Penh.
Bị nạn chặt đầu „cáp duồn“ thời Lon Nol phải hồi
hương phần lớn về Hồng Ngự Kiến
Phong, và một số người Việt đến Thái
Lan các vùng gần biên giới Lào Campuchia lập nghiệp. Những nhóm người trên có thể
v́ nhu cầu đời sống „ tha phương cầu thực“.
Từ năm 1914 -1954, hơn 50.000 thanh niên Việt
nam phần lớn là nông dân miền Bắc, bị bắt
đi lính cho Pháp gọi là lính thợ (Soldats ouvriers) phục vụ cho chiến trường
Âu Châu chống Đức. Chiến tranh chấm dứt, những người lính thợ ở
lại làm việc trong các ngành dệt, hay xe hơi.
Những ông Vua chống Tây bị bắt
đày sang các đảo ở châu Phi như : Hàm Nghi
(1872-1943), Duy Tân (1900-1945) Thành Thái (1879-1954) và vua cuối cùng
Bảo Đại (1931-1997) đă mất trên đất
Pháp. Phần lớn các nhà trí thức khoa học gia Việt
Nam được đào tạo tại Pháp thành tài ở lại
Pháp, hay về phục vụ đất nước...đặc
biệt cụ Phan Châu Trinh (1872-1926) đến kinh thành ánh
sáng Paris với mục đích đấu tranh đ̣i hỏi
dân quyền cho Việt Nam…
Hiệp định Genève năm 1954, gần
một triệu người Bắc di cư vào Nam lập
nghiệp, nhưng cuộc di tản lớn nhất trong lịch
sử từ ngày 28.4.1975 cho đến sau ngày 30.4.1975 hàng triệu
người Việt bất đắc dĩ bỏ nước
ra đi t́m tự do. Bởi v́ mọi người sợ cảnh
đấu tố, cải cách ruộng đất (1949-1956)
và vụ án Nhân Văn giai phẩm (1956). Chiến
tranh Việt Nam chấm dứt, nhưng chính quyền CSVN thời
đó ra lệnh bắt hàng trăm ngàn Công chức, Sĩ
quan, Giáo viên, Chuyên gia chế độ cũ (VNCH) vào các trại
tập trung cải tạo, máu không đổ nhưng mồ
hôi, nước mắt đă âm thầm đổ ra trong các
trại cải tạo hà khắc… Người giàu, có tài sản
như thương gia, thầu khoán ..bị
kết tội „tư sản mại bản“ tài sản bị
tịch thu đuổi họ đi vùng kinh tế mới… cải
tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền hai lần
1975 và 1978.
Thanh niên bị bắt
đi nghiă vụ quân sự sang chiến trường
Campuchia ...Người miền Nam phải trải qua giai
đoạn cực kỳ khó khăn khốn khổ, trại
cải tạo mở rộng, cánh cửa tự do bị khép kín, t́nh người bị
lăng quên, miền Nam không thiếu gạo, nhưng phải
ăn hột bo bo (thức ăn cho gia
súc)... Người dân hết
tin tưởng vào chính quyền nên bỏ nước ra
đi đến các nước láng giềng ở Á Châu bằng
ghe thuyền, „Boat people“ cập bến
xin tị nạn các đảo như Galang (Indonesia) Songkla,
Sikiew Thái Lan, Bidong (Malaysia), Palawan, Malia (Philippin), Hongkong
Cao Ủy Tị Nạn
UNHCR (United Nations High Commissionner for Refugees) phân phối thuyền
nhân định cư phần lớn các quốc gia như:
Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Úc, Canada, Nhật, Ư, Hoà Lan, Tây
Ban Nha .v v... Thuyền nhân Việt Nam làm lại cuộc
đời bằng đôi bàn tay trắng với bản tính
người Việt luôn tranh đấu để sinh tồn
và phát triển khắp nơi trên thế giới.
Sau khi an cư lạc nghiệp, người Việt tị nạn
được phép bảo lănh thân
nhân đoàn tụ gia đ́nh, từ đó có thêm hàng trăm
ngàn người ra đi chính thức bằng máy bay. Thêm các
chương tŕnh ra đi có trật tự O.D.P (Oderly Departure Program) diện con
lai (Amerasians) nhờ sự
đấu tranh của Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị
VN của bà Khúc Minh Thơ và nhiều đoàn thể người
Việt tị nạn ở Hoa Kỳ cho Tù Nhân Chính Trị
Nam. Năm 1989 Tổng thống Reagan phê chuẩn cho
chương tŕnh H.O.Tù cải tạo được phóng
thích (Released Reeduction Detainees
program) năm 1990 từ HO.1 đến HO. 32 đă hơn
300 ngàn tù nhân chính trị và gia đ́nh đến Hoa Kỳ
Biến cố 30 năm về trước
dù đất nước thống nhất, nhưng hơn 2
triệu người miền Nam đành bỏ nước
ra đi, không tính diện thanh niên phần lớn ở miền
Bắc sang Nga và các nước cộng sản Đông Âu lao
động trả nợ chiến tranh, Từ
năm 1990 khi chủ tịch Gorbatschow thay đổi chính
sách cai trị Glasnost/Openness/Offenheit
(cởi mở), Perestrojka/ Unggestaltung/Remodeling
(tái phối trí) th́ Liên Bang Nga
Sô đổi mới. Ngày 02.05. 1989 Ungarn mở cửa biên giới
thông thương với Tây phương. Hàng ngàn người
Đông Đức hướng về Budapest của Ungarn, chạy
vào ṭa Đại sứ Tây Đức để xin tị nạn...
Các nước Đông Âu thay đổi chính sách cai trị, kéo
theo sự sụp đổ thiên đường cộng sản..
người Việt Nam lao động chạy sang các nước phiá Tây xin tị nạn.
Nh́n lại lịch sử thế giới
như cuộc nội chiến Hoa Kỳ, miền Bắc chiến thắng
miền Nam ngày 9.4.1865 tướng Ulysses không giữ quân nhân
nào phiá bại trận làm tù binh mà c̣n tuyên bố „những người trước
đây gọi là phiến loạn, nay tất cả đều
là đồng bào của chúng ta“.
Đệ nhị thế chiến (1939-1945) Đức-Ư-Nhật
đầu hàng. Quân đội Đồng Minh chỉ
đưa ra ṭa một số người cầm đầu
trước ṭa án xử phân minh.. Cuộc cách mạng các nước
Đông Âu thay đổi từ chế cộng sản sang tự
do, không có trả thù hay trại tập trung cải tạo.
Những thập niên qua chính phủ Việt
Nam cho xuất cảng người ! sang Đại Hàn, Mă
Lai, Nhật,
đến các nước Á Rập làm khách thợ.., những
cô gái quê theo phong trào lấy chồng ngoại quốc... đây là thảm cảnh trong
trăm ngàn thảm cảnh của dân Việt Nam, phải sống
trong hoàn cảnh xă hội quá đổi mới sau 30.4.75. Ba
mươi năm qua, tưởng chừng là một quăng thời
gian đủ để phân giải được rơ ràng
cái thắng bại, đúng sai.
Dân tộc ta đă từng khóc hận
nước mắt ngập tràn từ sông Gianh, sông Bến Hải
và trên Biển Đông. Lịch sử Việt Nam là những
chuỗi ngày đau thương
chưa kết thúc. Phải chăng cuộc sống c̣n
đối diện với một tương lai mù mịt
! Tôi nhắc lại hoàn cảnh khổ đau không phải
khơi lại niềm đau sầu hận, mong chính quyền
Việt Nam phải ư thức việc cai trị, đoàn kết
dân tộc xây dựng quốc gia giàu mạnh và phú cường
Đến xứ người
càng thấy yêu thương đất nước
xinh đẹp của mình bội phần,
ước gì Việt Nam ngày càng thịnh
vượng, phát triển, nhân quyền, tôn giáo
được tôn trọng. Biên giới, hải phận phải
bảo vệ để người dân được
hạnh phúc và ấm no… Bên kia bờ Đại
Dương là như vậy, mà bên đây bờ cũng không
hơn ǵ với nỗi khắc khoải nhớ quê
hương, sự giằng co thích
nghi cuộc sống lúc nào cũng chực làm rướm máu
con tim. Người Việt chúng ta bỏ quê hương âm
thầm ra đi, không hận thù mong t́m được tự
do, thời đó bị rượt bắt đánh đập
cầm tù..hàng trăm ngàn người đă chết trên biển,
ra đi với đôi bàn tay trắng. Người Việt
với bản tánh cần cù chịu khó cầu tiến, làm
việc chuyên cần, đă thành công trên mọi phương
diện từ Khoa học, Kinh Tế, Thương
măi…Người Việt thành công nhất ở Hoa Kỳ,
trong 186 ngành thương măi lớn nhỏ, từ việc
cho thuê quần áo cưới, du lịch, pháp lư di trú, địa
ốc, giặt ủi, tang chế, tắm hơi, dọn
nhà, chuyên chở, thợ mộc, thợ hồ, bác sĩ, luật
sư, pḥng thẩm mỹ ở khắp nơi đều
có người Việt hành nghề.
Sự nghiệp người Việt
trên nước Mỹ không phải tự nhiên mà có. Không ai
dâng hiến cho ḿnh. Tất cả được làm nên bằng
mồ hôi và ḷng kiên nhẩn, những hy sinh cực nhọc
nơi ghế nhà trường, những giờ phút bù đầu
làm bài trong đêm khuya, sau một ngày làm việc mệt mỏi.
Có người làm hai công việc sau giờ làm thường
lệ, c̣n phải đi hút bụi, lau nhà, cắt cỏ
mướn, cào lá, tỉa cây, kḥm lưng, vẹo cạnh
sườn, mỏi cánh tay,
để tạo cho ḿnh một tương lai, cố gắng
hết khả năng trời cho. Không ai ngồi không há miệng
chờ sung rụng, tiền không thể từ trên trời
rơi xuống, họ không than thân trách phận nuối tiếc
thời vàng son bởi v́ nó chỉ là bóng mờ dư âm.
Người tị nạn Việt Nam làm việc không ngại
nắng mưa, đêm, ngày để xây dựng đời
sống, lo cho con cái có tiền học hành nên người hữu
ích cho xă hội, dành dụm tiền bạc gởi về
giúp đỡ thân nhân bên quê nhà mong đợi !! Chương tŕnh nhạc Asia do nhạc
sĩ Trúc Hồ thực hiện DVD giới thiệu nhiều
danh tài trẻ người Việt Nam như: khoa học gia
Dương Nguyệt Ánh, Dương Việt Quốc, luật
sư Trần Văn Thái, nữ tài tử Lê Thị Hiệp,
xướng ngôn viên đa tài Lena Nguyễn, bà Lữ Anh
Thư, luật sư Trịnh Hội… đă thành công trên
vùng đất hứa, đó là một
niềm tự hào dân tộc. Nhớ ơn tiến sĩ
Nguyễn Hữu Xương và những người có công
vận động trong Ủy Ban Báo Nguy cứu người
Vượt Biển, giúp thuyền nhân Việt Nam, cũng
không quên vinh danh những người đă dấn thân cho tự
do: Hoàng cơ Minh, Trần Văn Bá, Vơ Đại Tôn, Nguyễn
Hữu Luyện …
Tựa đề “Keeping up with the Nguyen” trên tờ Mercury News mô tả
sự thành công của người Việt, theo bản thống
cơ quan thống kê „Data Quick
Information Systems“ những người họ Nguyễn
thành công nhiều. Nhưng theo tôi, những người mang
họ khác cũng thành công, có thể họ Nguyễn nhiều
hơn nên dễ so sánh.. Tôi từng
đến các tiểu bang ở Hoa Kỳ ngợp mắt với
những bảng hiệu bằng tiếng Việt Nam, những
thương xá, buôn bán sầm uất đầy đủ
các mặt hàng trái cây miền nhiệt đới….đến khu Phước Lộc Thọ,
nghe nhạc Việt nam, cải
lương cho đến vọng cổ, hương vị
cafe, thức ăn thơm phức làm lưu chân người
lữ khách.. Người Việt sống ở Đức
khí hậu lạnh, khoảng hơn 1 trăm ngàn người,
sống rải rác khắp nơi không thể nào t́m sinh hoạt
phong phú như ở Hoa Kỳ. Nghề thịnh hành nails làm móng tay giả học 6 tháng hành
nghề, nghe nói lương trung b́nh 4000 $, tương
đương kỹ sư ở Đức, công ty Orchid do
người Việt làm chủ khá
thành công. Theo bộ Lao Động
Hoa Kỳ (US Department of Labor), đời sống người
Việt khởi sắc ít thất nghiệp, dù làm bán thời
gian (part time) hay làm toàn thời (full time)
Những ngành nghề phổ thông làm việc
trong các hăng xưởng như ráp nối (assemblers), cán sự điện (electronic technicians) chuyên viên (drafter) kỹ sư
điện ( electrical engineers)
vùng thung lũng hoa vàng nắng ấm San Jose thành công, nhưng vùng giá lạnh như
Alaska cũng không thiếu người Việt Nam trên những
con tàu ra khơi đánh cá…
Hơn
300 ngàn người Việt Nam lâu đời ở Pháp tập
trung buôn bán quận 13 Paris, không trù phú như người Việt
ở Hoa Kỳ. Năm 2003, Thủ
tướng Pháp trao tặng huy chương giáo dục cho
nhà văn Nguyễn Phú Thứ „Chevalier dans l'ordre des Palmes Académiques". Có thể quốc gia
Hoa Kỳ đa Văn hoá, dễ hội nhập hơn, những
người có bằng cấp chuyên môn ở Việt Nam cần
tu nghiệp và hành nghề trở lại, trong khi ở
Đức th́ khó có cơ may làm lại ngành cũ, phải học
lại từ đầu.
Chính phủ tiểu bang California đề
cử cựu học sinh Phan Châu Trinh bạn Nguyễn Đức
Chương lănh giải thưởng về doanh
thương. Chương sinh năm 1955 đến
định cư California Los Angeles năm 1975, anh đi làm
đi học khá vất vả trải qua nhiều giai
đoạn thất bại về thương măi, Furniture,
bán bảo hiểm Nhân Thọ, mở nhà hàng cuối cùng là Văn
pḥng Employment Agency, từ thất bại anh đă thành công vẻ
vang với nghề Doanh thương nhỏ (Small Business), anh trả
lương cho nhân viên hơn 4,5 triệu trong năm 2004. Nên
Tiểu Bang California đề cử Chương với
The NRCC’s Business Advisory Council giải thưởng “Businessman Of The Year 2004” ngày
15.3.2005 mời về Washington DC nhận giải thưởng
do tổng thống Bush trao tặng. Đây cũng là vinh dự
cho người Việt Nam và cựu học sinh Phan Châu Trinh
Đà Nẵng.
Ở Úc, Cộng Đồng người Việt
cũng khá thành công trên mọi lănh vực.
Thế hệ trẻ như đạo diễn Đỗ
Khoa được giải thưởng „young Australian of the Year“. Bác sĩ
Nguyễn Mạnh Tiến được Hội Đồng
Huy Chương Úc Châu (Council for
the Order of Australia) trao tặng huy chương OAM (Medal
the Order of Australia). Sự thành công nhanh chóng của Cộng
Đồng Việt Nam là một hiện tượng mới
của lịch sử Việt Nam.
Người Việt tị nạn, sống
độc lập với các quyền tự do, không lệ
thuộc thế lực chính trị nào cả nên văn học,
nghệ thuật, báo chí, truyền thông tự do phát triển.
Các bộ sử trước 1975 được tái bản,
Sử gia Trần Gia Phụng, Vũ Ngự Chiêu, cố luật
sư Hoàng Cơ Thụy viết những bộ Sử giá
trị, và nhiều người khác viết, dịch tài liệu
về cuộc chiến tranh Việt Nam, để con cháu
mai sau nghiên cứu và học hỏi khách quan, hơn ca tụng
một thần tượng… Giới trẻ Việt Nam khá
thành công ở hải ngoại, học và làm việc nghiên cứu
không cần phải sự chỉ đạo của một
đảng phái chính trị nào. Người tài th́ trọng
dụng không bị phân biệt lư lịch, thân thế theo kiểu
con ông cháu cha.
Ngày nay Việt nam cho phép sinh viên du học các nước Tây
phương nhưng phần lớn ra nước ngoài họ
không muốn trở về Việt nam ?
Nếu chính phủ Việt Nam thay đổi
như Nhật Bản „Neuen Ära“ thời Minh Trị Thiên Hoàng
(Mutsu Hito 1852-1912), sẽ có hàng trăm ngàn chuyên viên tài giỏi
ở các quốc gia trên thế giới t́nh nguyện về
xây dựng, để canh tân hiện đại hoá quê
hương, phát triển kinh tế cũng như nhân quyền,
đáp ứng nhu cầu toàn dân Việt Nam theo văn minh của
nhân loại.
Tôi mong ước và hy vọng những
người đang lănh đạo đất nước
hăy thẳng thắn nh́n nhận những sai lầm trong quá
khứ và rút ra từ đó những bài học trong
tương lai. Để giới trẻ trí thức trong
hay ngoài nước có quyền tham gia đóng góp tài trí trực
tiếp độc lập vào khoa học, kinh tế cũng
như chính trị của Việt Nam. Đó là ước
mơ chung của người Việt trong và ngoài nước.
Nguyễn Quư Đại
kỷ niệm 30 năm
người Việt rời bỏ quê hương
30.4.1975 - 30.04.2005
Tài liệu tham khảo
1/Phóng viên Minh Nguyệt phỏng đài Úc Châu phỏng
vấn nhà văn Trần Gia Phụng trên đài Úc Châu
2/ Những câu chuyện Việt sử tập 2 nhà
văn Trần Gia Phụng
3/ Từ Điển Nhân Vật NM của Nguyễn Quyết
Thắng
4/ Universal Lexikon
(Cảm ơn nữ
sĩ Bích Vân khoahoc.net đă sưả dùm chính
tả)