HUẾ QUA CA DAO

 

                                                                                   Nguyễn Quư Đại       

 

 

                                                                                                         

Ai về Xứ Huế cho ta nhắn

Thăm lại sông Hương núi Ngự B́nh

Từ lúc tha hương nơi Đất Hứa

Ngh́n năm thương nhớ chốn Thần Kinh

                                                           (Tâm Đạo)

 

 

                       

                                                            Bến đ̣ Huế

 

 

Huế kiêu sa và quyền lực một thời vang bóng, nhưng Huế đă lùi vào dĩ văng chỉ c̣n lại di tích lịch sử và thi ca lăng mạn. Viết về thi ca, lễ, nhạc xứ Huế quá rộng và bất tận. Tôi chỉ tham khảo những nét chính qua thi ca b́nh dân. Ca dao truyền tụng từ đời nầy sang đời khác được phổ biến sâu rộng trong dân gian, măi măi trường tồn trong lâu đài văn hóa dân tộc

 

Xong Trung học ra Đại Học Huế, tôi có cơ hội tiếp xúc với phong tục đời sống, cảm nhận thi ca b́nh dân của Huế vào hồn. Kỷ niệm c̣n vướng đọng dư âm hơn 28 năm qua, nhớ về Huế mùa hè lắm ve sầu hót véo von, sông Hương nước trong xanh, lững lờ chảy về Thuận An, các đàn cá đối ung dung bơi lội t́m mồi. Hai bên bờ phượng vĩ nở đỏ rực, lộ hẳn trên nền trời trong xanh. Có lẽ đúng đất Thần kinh thơ mộng, nên thi ca b́nh dân phong phú, lăng mạn. Các điệu ḥ trên sông Hương trong những đêm trăng đẹp, đă làm rung động ḷng người lữ khách.

 

            Đến Huế để nh́n lại những cung điện, đền đài, lăng tẩm, thưởng thức các món đặc sản : bún ḅ Huế, bánh khóai, tré nem... chưa đủ, nhưng nếu nghe tiếng hát ru con qua ca dao, hay các giọng ḥ mái nh́, mái đẩy... trên sông Hương, như vậy mới gọi là thưởng thức trọn vẹn được cái hay, thơ mộng của Huế.

 

            Thi ca b́nh dân gợi lại dư âm, cái uy nghi của Kinh đô, từ cửa Ngọ Môn cao vời vợi có lầu Ngũ phụng uy quyền qua các triều đại đến Điện Thái Ḥa nơi thiết-đại-triều, giờ đây vắng bóng người..  Thời xa xưa người Việt dùng loại đèn chai đốt sáng, đă biến mất theo sự phát triển khoa học, đèn điện sáng tiện lợi, nhưng không tạo được nét huyền ảo trong những đêm trăng non ở Huế  .

 

                                  

 

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Cột cờ ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng

 

Ai ơi chớ phụ đèn chai

Thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn

 

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Người xưa tạo lập để công hầu vô ra.

 

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Một lầu vàng, tám lầu xanh,

Ba cửa thẳng, hai cửa quanh

Sinh em ra phận gái, không hỏi chốn kinh thành làm chi !

 

 

            Huế đất không rộng nhưng có chợ Đông Ba trước có tên là Đông Phước thay đổi vài lần, năm 1899 dời ra phố Tràng Tiền cho đến ngày nay, chùa Diệu Đế ở đông ngạn sông Đông Ba, chùa Thiên Mụ ..... các di tích dù bị chiến tranh, thiên tai tàn phá, nhưng được trùng tu, các địa danh gắn liền với lịch sử, và phong tục.

 

Văn Thánh trồng thông

Vơ Thánh trồng bàng

Ngó vô Xă Tắc hai hàng mù u. (1)

 

 

Đông Ba, Gia Hội hai Cầu

Ngó lên Diệu Đế trống lầu gác chuông

 

Bến chợ Đông Ba, tiếng gà eo óc

Bến chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh

Giữa sông Hương giợn sóng khuynh thành

 

Chùa Thiên Mụ kiến trúc tôn giáo cổ và đẹp nhất xứ Huế. Chùa có từ thế kỷ XIV, dựng trên đồi Hà Khê, nằm ở bờ bắc sông Hương, cách kinh thành 7 km về phía tây. Chùa gắn với huyền thoại bà Tiên áo đỏ, nên chùa có tên là Thiên Mụ (bà Tiên trên trời). Trong chùa có ngọn tháp Phước Duyên, h́nh bát giác cao 21m chia làm 7 tầng. Mặt phía Nam, mỗi tầng có một cửa cuốn, đặt tượng Phật.

Theo tương truyền năm 1601 chúa Nguyễn Hoàng đến đây thấy phần đất thiên, cảnh đẹp, trước có sông sau là hồ, dựng nên chùa Thiên Mụ, măi đến năm 1710 chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc có Đại hồng chuông, cao 2,5 m, đường kính 1,4 m, nặng 2.632 kg, được đúc từ thế kỷ XVIII. chuông nặng 3285 cân ta, tiếng chuông ngân vọng ra xa, bên kia sông là làng Long Thọ Xương, có tiếng gà gáy ó o..

                       

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Thiên Mụ, Canh gà Thọ Xương

Ai về cầu ngói Thanh Toàn

Cho em về với một đoàn cho vui.

 

Cầu Thanh Toàn nằm ở cuối làng Thanh Thủy, thuộc xă Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế chừng 8km về hướng đông. Tên cầu chính là tên làng trước đây khi chưa bị đổi tên. Được xây dựng cách đây hơn 200 năm, bắc qua một con rạch chảy giữa làng. Đây là một chiếc cầu bằng gỗ dài 17m, rộng 4m, hai bên thân cầu có hai dăy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói ốp tráng men, chia làm bảy gian. Do kiến trúc như vậy nên các nhà nghiên cứu đă xếp cầu này vào loại "thượng gia, hạ kiều", tức phía trên là nhà, phía dưới là cầu

            Đến Huế, không có du khách nào bỏ qua du thuyền trên sông Hương. Gọi là sông Hương, bởi ḍng sông chạy qua những cánh rừng thảo mộc có hương thơm. Với độ dài 80 km, sông Hương uốn lượn trong thành Huế, làm say đắm du khách. Thuyền đưa du khách trên sông quanh kinh thành qua các cầu Phú Xuân, Tràng Tiền, Dă Viên, đưa du khách lên thăm chùa Thiên Mụ, điện Ḥn Chén, lăng Minh Mạng... để rồi xuôi về cửa Thuận An tắm biển. Đêm về mặt sông, nghe đâu đấy giọng ḥ mái đẩy man mác của người con gái xứ Huế cất lên, nghe mà thương mà nhớ. Núi Ngự nằm ở bờ Nam, c̣n có tên Băng Sơn cách kinh thành khoảng 3 km. Ngọn núi h́nh thang cao 105 m, đỉnh bằng phẳng như một bức b́nh phong che chở cho kinh thành

 

Huế đẹp thơ mộng, từ Đà Nẳng ra trước khi đến Huế thấy núi Ngự B́nh nh́n phía trước tṛn nhưng sau hơi méo, cây cối không cao nhưng có nơi chim cu đứng gáy. Bến đ̣ nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng, dưới cầu Gia Hội những chiếc đ̣ nhỏ có mái cong.. Nếu khách bộ hành đi ngang qua đó sẽ được các cô  mời gọi..

 

Thuyền ai lơ lửng trên sông,

Có ḷng đợi khách hay không hỡi thuyền?

Để ta kết ngăi nối duyên

Trai anh hào gặp được thuyền quyên c̣n ǵ ?

Thuyền ai trôi trước cho em lướt tới cùng ,

Chiều đă về, trời đất mông lung,

Phải duyên th́ xích lại cho đỡ năo nùng đêm sương.

 

Núi Ngự B́nh mơ màng trăng gió

Niềm tâm sự ai thấu rơ cho ḿnh

Đoái nh́n sông Hương nước chảy thanh thanh

Sông bao nhiêu nước, dạ sầu bấy nhiêu !

 

            Biến cố của Kinh thành Huế sau khi vua Tự Đức (1829-1883) băng hà, để lại những rối ren trong nội bộ triều chính, (2) được nhắc lại qua  cao dao :

                                                                      

Một nhà sinh được ba vua(3)

Vua c̣n, vua mất , vua thua chạy dài

 

Gẫm xem thế sự mà rầu

Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi

           

Nhất giang lưỡng quốc nam phân thuyết

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường (4)

 

           

            Thực dân Pháp đô hộ, triều đ́nh Việt Nam mất hết uy quyền chỉ làm v́, thực quyền do thực dân và bọn tay sai cai trị, bóc lột tận xương tủy dân tộc. Các vua quan Việt Nam đều phẩn uất. Thành Thái bị phế, vua Hàm Nghi và Duy tân đều muốn khởi nghĩa dành lại độc lập, nhưng đều thất bại. (5)

 

Chiều chiều trên (trước) bến Văn Lâu

Ai ngồi ai câu, ai sầu, ai thảm ?

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông ?

Thuyền ai thấp thoáng bên sông ?

Nghe câu mái đẩy chạnh ḷng nước non!

 

Sông Hương chảy đến chợ Đông Ba chia làm ba nhánh, không kể sông Đông Ba chảy dọc theo phía Đông hoàng thành về Bao Vinh, một nhánh chảy về Gia Hội chợ Dinh, Băi Dâu , một nhánh chảy dọc theo thôn Vĩ Dạ xuống ngă Ba Śnh. Ở giữa hai nhánh nầy là Cồn Hến. Một nhánh khác chảy về Chợ Cống có Đập Đá ngăn lại.

                          

Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá

Thuyền về Vĩ Dạ, thẳng ngă ba Śnh

Lờ đờ bóng ngả chênh chênh

Gịong ḥ xa vọng, nhắn t́nh nước non

 

                                  

 

Thời thế ngửa nghiêng, Huế đôi lúc trở nên u buồn trầm mặc, sầu muộn trong thời tao loạn. những biến đổi của cuộc đời, chỉ để lại cho con người giọt nước mắt thương đau !

 

Khô héo  lá gan cây đỉnh Ngự

Sầu vơi giọt lệ nước sông Hương

 

Nơi bến Trường Tiền có cây đa bóng mát,

Gần bến Bồ Đề có băi phẳng ĺ

Trời ơi ! sang giặc làm chi ?

Để quân Trấn Vũ phải ra đi cơ hàn !

 

Đêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng

Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,

Tiếng kêu đàn nhạn trên áng Hoành Sơn

Một ḿnh em ngồi giữa sông Hương,

Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe !

 

 

             Nhiều sĩ phu một ḷng chống lại chính quyền thuộc địa, thực dân, nhưng cũng không thiếu những người v́ quyền lợi cá nhân làm tay sai cho giặc, để vinh thân ph́ gia

 

Đất Thừa Thiên trai thanh gái lịch

Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng

Tháp bảy tầng, thánh miếu, chùa Ông

Trách ai hai dạ một ḷng

Tham đồng bạc trắng phụ ḷng dân đen !                            

           

            T́nh yêu với tổ quốc cũng như gia đ́nh được truyền tụng, cao dao chứa đựng được ḷng hiếu thảo của con cái đối cha mẹ ông bà.

 

Đêm đêm khấn vái Phật ,Trời

Cầu xin cha mẹ sống đời với con

Vô chùa thấy Phật muốn tu

Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành

Lạy trời cho nổi gió nồm

Để cho chúa Nguyễn thuận buồm trẫy ra.

 

            Con gái lúc trưởng thành lập gia đ́nh, theo chồng đi về một vùng trời nào xa xăm tận  Quảng Nam... không quên nh́n mái nhà xưa thân yêu luyến tiếc tuổi thơ, xa gia đ́nh theo quan niệm xưa “xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử”

 

Ra đi ngó  trước ngó sau ,

Ngó nhà mấy cột , ngó cau mấy buồng.

Chiều  chiều ra đứng ngơ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều

 

            Mỗi địa phương đều có những lời hát ru con, từ thành thị cho tới thôn quê có những nét giống nhau, nhưng âm hưởng tùy theo lời ru à ời ..kéo dài thanh thoát . Chúng ta đă được mẹ hiền, hát ru ngủ lúc c̣n bé nằm trong nôi, những trưa hè thanh vắng trong thành nội, vọng lại tiếng hát ru con à ời kéo dài âm thanh như  lời dặn ḍ

                                  

Mạ ơi ! chớ đánh con đau

Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ!

Ru con con thét cho muồi

Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu

Mua cau Nam phổ, mua trầu chợ Dinh

Cá tôm mua tại chợ Śnh

Triều Sơn bán nón, Bao Vinh bán đường

 

Con chim xanh xanh ăn trái xoài xanh

Ăn no tắm mát đậu ngành dâu da

Cực ḷng em chẳng nói ra,

Chờ trăng trăng lặng chờ hoa hoa tàn...

 

Nguồn an ủi của tuổi già được sống bên con cháu có ḷng hiếu thảo, chữ hiếu là căn bản đạo đức của văn hóa lâu đời. Người Việt rất thiết tha với mái ấm gia đ́nh. Các món ăn ngon, dâng ba mẹ dùng như gạo vùng An Cựu nổi tiếng thơm ngon, theo định luật sinh tồn của tạo hóa con người phải chết, cha mẹ c̣n sống nếu con cháu có hiếu thảo là nguồn an ủi Người Việt thường có phong tục sống phụng dưỡng cha mẹ ông bà trong đại gia đ́nh.Thờ cúng tổ tiên tưởng nhớ ông bà.Trông lên bàn thờ nhang tàn đèn tắt, cảm thấy nỗi buồn lắng đọng

 

Ngó lên nhang tắt đèn lờ

Mẫu thân đâu vắng bàn thờ lạnh tanh !

                                    

Mẹ Già như chuối ba hương

Như xôi nếp luột (một), như đường mía lau

Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi

Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già

 

            T́nh yêu là những rung động của hai tầng số tâm hồn gặp nhau, ca dao Huế cho t́nh ca đó len lỏi vào ḷng, vượt thời gian tâm lư cũng như vật lư, t́m đến với t́nh yêu những phút giây đợi chờ, thương nhơ, hay giận hờn

              

Đường vô xứ Huế loanh quanh,

Non sông nước biếc như tranh họa đồ

Thương anh, em cũng muốn vô

Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang (6)

Phá Tam giang ngày rày đă cạn,

Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm

 

            Lời nguyện ước một ḷng thủy chung, đá ṃn theo thời gian xâm thực nhưng ḷng người, t́nh yêu phải một ḷng một dạ. Hạnh phúc không đánh đổi bằng tiền, không phải ở địa vị cao sang, hạnh phúc chính là ở chổ sống bên nhau, trong bất cứ hoàn cảnh nào.

 

Khi nào cạn nước Đồng Nai

Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền !

Tay bưng dĩa nuối chấm gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau !

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo,

Sông An Cựu nắng đục mưa trong,

Đôi ta nguyện kết chữ đồng,

Đá ṃn sông cạn mà ḷng thủy chung!

Dăy dọc ṭa ngang, giàu sang có số,

Kim Long, Nam Phổ, nước đổ về Śnh

Hai đứa ḿnh gá nghĩa ba sinh,

Dẫu có  mần răng đi nữa, hai đứa ḿnh không thể bỏ nhau

Đôi ta kết nghĩa vợ chồng

Đá ṃn, sông cạn mà ḷng thủy chung !

 

            Sông nước thiên nhiên, cô gái chèo đ̣ duyên dáng mái tóc thề dưới chiếc nón bài thơ. Phong cảnh nhân t́nh như một bức tranh, đủ màu sắc, có sông hồ, có vườn,  chùa..trái cây ngọt ngào ..

 

Thuyền về Đại Lược

Duyên ngược Kim Long

Đây là chỗ rẽ của ḷng

Mai kia rồi biết trên sông bến nào?

 

                                    Hồ Tĩnh Tâm giàu sen bạch diệp

Đất Hương Cần ngọt quít thơm cam

Ai về Cầu ngói Thanh Toàn

Cho anh về với một đ̣an cho vui.

Ai về Cầu ngói Dạ Lê,

Cho em về với thăm quê bên chồng.

                                                          

Đố ai biết rít mấy chân

Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người

Đông Ba, Gia Hội hai cầu

Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

                       

Nhớ nhung nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, những ước mơ thầm kín thuyền t́nh cập bến yêu đương                                                    

Kim Long có gái mỹ miều,

Ta thương ta nhớ, ta liều ta đi!

Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn,

Chèo qua Ngọc Trản, đến vạn Kim Long ;

Sương sa gió thổi lạnh lùng ;

Sóng xao trăng lặn , gợi ḷng nhớ thương !

 

Nỗi xót xa khi t́nh yêu bị chia ly, buồn cuộc đời dâu bể, cảnh vật đổi thay mỗi người một phương trời vô định

 

Nước chảy xuôi , con cá buôi lội ngược

Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang

Thuyền em xuống bến Thuận An

Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi !

                                                          

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn

Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng

Vàng trên tay rớt xuống không phiền,

Phiền người bội nghĩa biết mấy niên cho hết sầu!

Em nói với anh như ŕu chém xuống đá,

Như rựa chém, xuống đất, như mật rót vào tai.

Răng chừ  em lại nghe ai

Qua cầu nghiêng nón chạm vai không chào ?

Anh nói với em như ŕu chém xuống đá

Như rạ chém, xuống đất, như mật rót vào tai.

Bây chừ anh lại nghe ai.

Bỏ em ở chốn non đoài thảm chưa ?

 

                                 

 

Chia tay nhưng vẫn mơ ngày hội ngộ, với số phận đẩy đưa trong bi thương và gợi cảm

 

Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp

Anh qua rồi xin kịp về sau

Kẻo mai tê  bóng xế ngang cầu

Bạn c̣n thương bạn biết gửi sầu nơi mô mà t́m ?

 

Chim xa rừng c̣n thương cây nhớ cội

Người xa người tội lắm người ơi

Thà rằng không biết th́ thôi

Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn

 

            Tập tục ngàn xưa dựng sẳn bức từng „môn đăng hộ đối“ một chướng ngại lớn lao viễn ảnh đen tối của ái t́nh !!. Quan niệm hôn nhân, cha mẹ đặt đâu c̣n ngồi đó, hôn nhân gượng ép, t́nh yêu đôi khi phải phó mặc cho định mệnh an bài.   

 

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo

Sông An Cựu nắng đục mưa trong.

Đôi ta như chỉ lộn vồng,

Nợ th́ có nợ, vợ chồng không duyên !

Bởi v́ mẹ thầy lánh đục t́m trong

Cho nên duyên chàng, phận thiếp cứ long đong măi hoài !

           

            Sự kỳ diệu của tạo hóa, màu nhiệm của định luật ràng buộc ái t́nh đưa đến hôn nhân, đàn bà cần các đức tính „công dung ngôn hạnh“ nhưng không thể thiếu ḷng chung thủy.

 

Đôi ta kết nghĩa vợ chồng

Đá ṃn, sông cạn mà ḷng thủy chung !

Đi đâu cho thiếp đi cùng

Đói no thiếp chịu lạnh lùng có đôi !

Lên non em cũng lên theo

Xuống thuyền em cũng đắp đeo mạn thuyền !  

 

Ca dao là kho tàng văn chương b́nh dân vô giá, đi vào chiều sâu tâm t́nh vừa như nhớ nhung, nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, gợi lại h́nh ảnh xa xưa thời thơ ấu, kỷ niệm khó quên. Bài tham khảo không tránh những thiếu sót nhưng nhắc lại ca dao, mong sưởi ấm tâm hồn trong những ngày xa quê hương!

 

Chim bay lưng trời mà c̣n có tổ

Cá lội giữa ḍng vẫn có hố hang

Người đời đă có tổ-quốc giang-san

T́nh thần ư chí phải nhịp nhàng với non sông

           

                                               Munich cuối Hạ 2002 

 

 

(1) Dưới thời vua Tự Đức để lại chiến công hiển hách, quân Pháp từ Thuận An tiến về Kinh thành Huế, bị quân triều đ́nh mai phục bất th́nh ĺnh đổ trái mù u ra mặt đường,giặc Pháp bị bất ngờ đạp trên trái mù u té, phục quân đổ ra đánh chém, giặc Pháp thua chạy dài, các hàng cây mù u xanh tươi của Xă Tắc c̣n đó, gợi lại niềm tự hào dân tộc đă chiến thắng quân xâm lược. 

(2) Các đại thần như Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và Tôn Thất Thuyết (1835-1913) đă chuyên quyền, cách chức ngự sử Phan Đ́nh Phùng (1844-18959, và Ông Ích Khiêm. Trong bốn tháng kể từ ngày Tự Đức mất triều đ́nh phế lập ba  vua. Vua Hàm Nghi trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp ngày 23.4.1885 thất bại bỏ Kinh thành và thảo hịch Cần Vương, bị bắt ngày 26.9.1888 đày sang Algérie

(3) (Kiên Thái Vương con thứ 26 vua Thiệu Trị có 5 trai hai gái, con đầu là vua Đồng Khánh(1863-1888), con thứ ba là Kiến Phúc(1872-1943) mất, con thứ năm là Hàm Nghi (1872-1943)

(4) Ông Ích Khiêm (1840-1890)  khảng khái ở trong ngục đă ngâm hai câu thơ trên, Sông Hương chia hai gịng nước, th́ khó nói chuyện, một bên trong bên đục. Ngụ ư bờ bên kia là ṭa Khâm xứ Pháp, bên nấy nầy thuộc Nam triều

 

            Trong bốn tháng phế lập ba vua Dục Đức, Hiệp Ḥa, Kiến Phúc

            Hai chữ cuối của hai câu trên ám chỉ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tương 

 

(5) Cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân (1900-1945)  năm 1916 thất bại vua Duy Tân bị bắt ngày 6-5-1916 bị đày san đảo Réunion. Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên(1882-1916) cùng nhiều người yêu nước tham gia phong trào đều  bị tử h́nh tại pháp trường An Ḥa gần Huế. trong dân gian c̣n ghi nhớ, bến Văn Lâu nơi gặp gỡ của vua Duy Tân giả đi câu che sự theo dỏi của mật thám Pháp, bàn việc đại sự khởi nghĩa chống Tây

(6) Truông là đồi cát có nhiều cây cối gọi là truông nhà Hồ địa danh Hồ Xá, Vĩnh Linh Quảng Trị thưở xa xưa nhiều toán cướp, cướp hành lư khách qua truông. Phá Tam Giang phá là hồ rộng lớn ở huyện Quảng Điền có 3 sông hợp lại Tả Giang,Trung giang, Hữu giang

  

 Chú thích thêm về các thổ ngữ  của người Huế  Mẹ = mạ; ngó = nh́n ; ngủ muồi = ngủ cho ngon; đi mô = đi đâu; mai tê = mai kia , răng chừ =  sao giờ; con rít = con rết; mần răng = làm sao; cái rạ = cái rựa..

 

               Sau tết Mậu Thân  1968 Huế  đau thương trong máu lửa có thêm ca dao

 

                        Mậu thân giặc chiếm Huế đô

                        Đốt nhà , cướp của, đào mồ chôn dân !

                        Làm sao quên được mậu thân

                        Cộng quân tàn ác giết dân hại ḿnh

                        Mậu thân cộng chiếm Huế đô

                        Đông Ba, Gia Hội thành mồ chôn dân !!

 

 

Tài liệu Tham Khảo

 

Cố Đô Huế  Tác giả Thái Văn Kiểm

Việt Nam Sử lược T.giả Trần Trọng Kim

Kinh Thi Việt Nam

Cao dao www.cadaovn.eu.tc