HUẾ
QUA CA DAO
Nguyễn Quư
Đại
Ai về Xứ
Huế cho ta nhắn
Thăm lại sông
Hương núi Ngự B́nh
Từ lúc tha
hương nơi Đất Hứa
Ngh́n năm
thương nhớ chốn Thần Kinh
(Tâm
Đạo)

Bến đ̣ Huế
Huế kiêu sa và quyền lực một thời vang bóng,
nhưng Huế đă lùi vào dĩ văng chỉ c̣n lại di
tích lịch sử và thi ca lăng mạn. Viết về thi ca,
lễ, nhạc xứ Huế quá rộng và bất tận.
Tôi chỉ tham khảo những nét chính qua thi ca b́nh dân. Ca dao
truyền tụng từ đời nầy sang đời
khác được phổ biến sâu rộng trong dân gian,
măi măi trường tồn trong lâu đài văn hóa dân
tộc
Xong Trung học ra Đại Học Huế, tôi có cơ
hội tiếp xúc với phong tục đời sống,
cảm nhận thi ca b́nh dân của Huế vào hồn.
Kỷ niệm c̣n vướng đọng dư âm hơn 28
năm qua, nhớ về Huế mùa hè lắm ve sầu hót
véo von, sông Hương nước trong xanh, lững lờ
chảy về Thuận An, các đàn cá đối ung dung
bơi lội t́m mồi. Hai bên bờ phượng vĩ
nở đỏ rực, lộ hẳn trên nền trời
trong xanh. Có lẽ đúng đất Thần kinh thơ
mộng, nên thi ca b́nh dân phong phú, lăng mạn. Các điệu
ḥ trên sông Hương trong những đêm trăng đẹp,
đă làm rung động ḷng người lữ khách.
Đến
Huế để nh́n lại những cung điện, đền
đài, lăng tẩm, thưởng thức các món đặc
sản : bún ḅ Huế, bánh khóai, tré nem... chưa đủ,
nhưng nếu nghe tiếng hát ru con qua ca dao, hay các
giọng ḥ mái nh́, mái đẩy... trên sông Hương,
như vậy mới gọi là thưởng thức
trọn vẹn được cái hay, thơ mộng
của Huế.
Thi ca b́nh dân gợi lại
dư âm, cái uy nghi của Kinh đô, từ cửa Ngọ
Môn cao vời vợi có lầu Ngũ phụng uy quyền
qua các triều đại đến Điện Thái Ḥa nơi
thiết-đại-triều, giờ đây vắng bóng
người.. Thời xa
xưa người Việt dùng loại đèn chai đốt
sáng, đă biến mất theo sự phát triển khoa
học, đèn điện sáng tiện lợi, nhưng không
tạo được nét huyền ảo trong những đêm
trăng non ở Huế .

Ngọ Môn năm
cửa chín lầu
Cột cờ ba
cấp, Phu Văn Lâu hai tầng
Ai ơi chớ
phụ đèn chai
Thắp trong
Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn
Ngọ Môn năm
cửa chín lầu
Người xưa
tạo lập để công hầu vô ra.
Ngọ Môn năm
cửa chín lầu
Một lầu vàng,
tám lầu xanh,
Ba cửa thẳng,
hai cửa quanh
Sinh em ra phận
gái, không hỏi chốn kinh thành làm chi !

Huế đất không
rộng nhưng có chợ Đông Ba trước có tên là Đông
Phước thay đổi vài lần, năm 1899 dời ra
phố Tràng Tiền cho đến ngày nay, chùa Diệu
Đế ở đông ngạn sông Đông Ba, chùa Thiên Mụ .....
các di tích dù bị chiến tranh, thiên tai tàn phá, nhưng được
trùng tu, các địa danh gắn liền với lịch
sử, và phong tục.
Văn Thánh
trồng thông
Vơ Thánh trồng bàng
Ngó vô Xă Tắc hai
hàng mù u. (1)
Đông Ba, Gia Hội
hai Cầu
Ngó lên Diệu
Đế trống lầu gác chuông
Bến chợ Đông
Ba, tiếng gà eo óc
Bến chùa Thọ
Lộc, tiếng trống sang canh
Giữa sông Hương giợn sóng khuynh
thành
Chùa Thiên Mụ kiến trúc tôn giáo cổ và
đẹp nhất xứ Huế. Chùa có từ thế
kỷ XIV, dựng trên đồi Hà Khê, nằm ở bờ
bắc sông Hương, cách kinh thành 7 km về phía tây. Chùa
gắn với huyền thoại bà Tiên áo đỏ, nên chùa
có tên là Thiên Mụ (bà Tiên trên trời). Trong chùa có ngọn
tháp Phước Duyên, h́nh bát giác cao 21m chia làm 7 tầng.
Mặt phía Nam, mỗi tầng có một cửa cuốn,
đặt tượng Phật.
Theo tương truyền năm 1601 chúa Nguyễn Hoàng đến
đây thấy phần đất thiên, cảnh đẹp,
trước có sông sau là hồ, dựng nên chùa Thiên Mụ,
măi đến năm 1710 chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc có Đại hồng chuông, cao 2,5 m,
đường kính 1,4 m, nặng 2.632 kg, được
đúc từ thế kỷ XVIII. chuông nặng 3285 cân
ta, tiếng chuông ngân vọng ra xa, bên kia sông là làng Long
Thọ Xương, có tiếng gà gáy ó o..

Gió đưa cành
trúc la đà
Tiếng chuông Thiên
Mụ, Canh gà Thọ Xương
Ai về cầu
ngói Thanh Toàn
Cho
em về với một đoàn cho vui.
Cầu Thanh Toàn nằm ở cuối
làng Thanh Thủy, thuộc xă Thủy Thanh, huyện
Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế
chừng 8km về hướng đông. Tên cầu chính là tên
làng trước đây khi chưa bị đổi tên.
Được xây dựng cách đây hơn 200 năm, bắc
qua một con rạch chảy giữa làng. Đây là một
chiếc cầu bằng gỗ dài 17m, rộng 4m, hai bên thân
cầu có hai dăy bục gỗ và lan can để ngồi
tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói ốp tráng
men, chia làm bảy gian. Do kiến trúc như vậy nên các nhà
nghiên cứu đă xếp cầu này vào loại
"thượng gia, hạ kiều", tức phía trên là
nhà, phía dưới là cầu
Đến
Huế, không có du khách nào bỏ qua du thuyền trên sông
Hương. Gọi là sông Hương, bởi ḍng sông
chạy qua những cánh rừng thảo mộc có
hương thơm. Với độ dài 80 km, sông
Hương uốn lượn trong thành Huế, làm say
đắm du khách. Thuyền đưa du khách trên sông quanh
kinh thành qua các cầu Phú Xuân, Tràng Tiền, Dă Viên, đưa
du khách lên thăm chùa Thiên Mụ, điện Ḥn Chén, lăng
Minh Mạng... để rồi xuôi về cửa Thuận
An tắm biển. Đêm về mặt sông, nghe đâu
đấy giọng ḥ mái đẩy man mác của
người con gái xứ Huế cất lên, nghe mà
thương mà nhớ. Núi Ngự nằm ở bờ Nam,
c̣n có tên Băng Sơn cách kinh thành khoảng 3 km. Ngọn núi
h́nh thang cao 105 m, đỉnh bằng phẳng như một
bức b́nh phong che chở cho kinh thành
Huế đẹp thơ mộng, từ Đà Nẳng ra
trước khi đến Huế thấy núi Ngự B́nh
nh́n phía trước tṛn nhưng sau hơi méo, cây cối
không cao nhưng có nơi chim cu đứng gáy. Bến đ̣
nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng, dưới
cầu Gia Hội những chiếc đ̣ nhỏ có mái cong..
Nếu khách bộ hành đi ngang qua đó sẽ được
các cô mời gọi..
Thuyền ai lơ
lửng trên sông,
Có ḷng đợi
khách hay không hỡi thuyền?
Để ta kết
ngăi nối duyên
Trai anh hào gặp được
thuyền quyên c̣n ǵ ?
Thuyền ai trôi
trước cho em lướt tới cùng ,
Chiều đă
về, trời đất mông lung,
Phải duyên th́ xích
lại cho đỡ năo nùng đêm sương.
Núi Ngự B́nh
mơ màng trăng gió
Niềm tâm sự
ai thấu rơ cho ḿnh
Đoái nh́n sông
Hương nước chảy thanh thanh
Sông bao nhiêu
nước, dạ sầu bấy nhiêu !
Biến cố của Kinh
thành Huế sau khi vua Tự Đức (1829-1883) băng hà, để
lại những rối ren trong nội bộ triều chính,
(2) được nhắc lại qua cao dao :
Một nhà sinh được
ba vua(3)
Vua c̣n, vua mất ,
vua thua chạy dài
Gẫm xem thế
sự mà rầu
Ở giữa
Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi
Nhất giang
lưỡng quốc nam phân thuyết
Tứ nguyệt tam
vương triệu bất tường (4)
Thực dân Pháp đô
hộ, triều đ́nh Việt Nam mất hết uy
quyền chỉ làm v́, thực quyền do thực dân và
bọn tay sai cai trị, bóc lột tận xương
tủy dân tộc. Các vua quan Việt Nam đều phẩn
uất. Thành Thái bị phế, vua Hàm Nghi và Duy tân đều
muốn khởi nghĩa dành lại độc lập,
nhưng đều thất bại. (5)
Chiều chiều
trên (trước) bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu, ai
sầu, ai thảm ?
Ai thương, ai
cảm, ai nhớ, ai trông ?
Thuyền ai
thấp thoáng bên sông ?
Nghe câu mái đẩy
chạnh ḷng nước non!
Sông Hương chảy đến chợ Đông Ba chia làm
ba nhánh, không kể sông Đông Ba chảy dọc theo phía Đông hoàng
thành về Bao Vinh, một nhánh chảy về Gia Hội
chợ Dinh, Băi Dâu , một nhánh chảy dọc theo thôn
Vĩ Dạ xuống ngă Ba Śnh. Ở giữa hai nhánh
nầy là Cồn Hến. Một nhánh khác chảy về
Chợ Cống có Đập Đá ngăn lại.
Thuyền từ
Đông Ba, thuyền qua Đập Đá
Thuyền về
Vĩ Dạ, thẳng ngă ba Śnh
Lờ đờ
bóng ngả chênh chênh
Gịong ḥ xa
vọng, nhắn t́nh nước non

Thời thế ngửa nghiêng, Huế đôi lúc trở
nên u buồn trầm mặc, sầu muộn trong thời
tao loạn. những biến đổi của cuộc đời,
chỉ để lại cho con người giọt
nước mắt thương đau !
Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự
Sầu vơi
giọt lệ nước sông Hương
Nơi bến
Trường Tiền có cây đa bóng mát,
Gần bến
Bồ Đề có băi phẳng ĺ
Trời ơi ! sang
giặc làm chi ?
Để quân Trấn
Vũ phải ra đi cơ hàn !
Đêm khuya một
chiếc thuyền mành ngửa nghiêng
Tiếng hát ngư
ông giữa sông Nhật Lệ,
Tiếng kêu đàn
nhạn trên áng Hoành Sơn
Một ḿnh em
ngồi giữa sông Hương,
Tiếng ca theo khúc đoạn
trường ai nghe !
Nhiều sĩ phu một ḷng chống lại chính
quyền thuộc địa, thực dân, nhưng cũng không
thiếu những người v́ quyền lợi cá nhân làm
tay sai cho giặc, để vinh thân ph́ gia
Đất Thừa
Thiên trai thanh gái lịch
Non xanh nước
biếc, điện ngọc, đền rồng
Tháp bảy tầng,
thánh miếu, chùa Ông
Trách ai hai dạ
một ḷng
Tham đồng
bạc trắng phụ ḷng dân đen !
T́nh yêu với tổ
quốc cũng như gia đ́nh được truyền
tụng, cao dao chứa đựng được ḷng
hiếu thảo của con cái đối cha mẹ ông bà.
Đêm đêm khấn
vái Phật ,Trời
Cầu xin cha
mẹ sống đời với con
Vô chùa thấy
Phật muốn tu
Về nhà thấy
mẹ công phu chưa đành
Lạy trời cho
nổi gió nồm
Để cho chúa
Nguyễn thuận buồm trẫy ra.
Con gái lúc trưởng thành
lập gia đ́nh, theo chồng đi về một vùng
trời nào xa xăm tận
Quảng Nam... không quên nh́n mái nhà xưa thân yêu luyến
tiếc tuổi thơ, xa gia đ́nh theo quan niệm xưa
“xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử”
Ra đi ngó trước ngó sau ,
Ngó nhà mấy cột , ngó cau
mấy buồng.
Chiều chiều ra đứng ngơ sau
Ngó về quê mẹ
ruột đau chín chiều
Mỗi địa
phương đều có những lời hát ru con, từ
thành thị cho tới thôn quê có những nét giống nhau,
nhưng âm hưởng tùy theo lời ru à ời ..kéo dài thanh
thoát . Chúng ta đă được mẹ hiền, hát ru
ngủ lúc c̣n bé nằm trong nôi, những trưa hè thanh
vắng trong thành nội, vọng lại tiếng hát ru con à
ời kéo dài âm thanh như
lời dặn ḍ
Mạ ơi !
chớ đánh con đau
Để con bắt
ốc hái rau mẹ nhờ!
Ru con con thét cho
muồi
Để mạ đi
chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán,
chợ Cầu
Mua cau Nam phổ,
mua trầu chợ Dinh
Cá tôm mua tại
chợ Śnh
Triều Sơn bán
nón, Bao Vinh bán đường
Con chim xanh xanh ăn
trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu
ngành dâu da
Cực ḷng em
chẳng nói ra,
Chờ trăng trăng
lặng chờ hoa hoa tàn...
Nguồn an ủi của tuổi già được
sống bên con cháu có ḷng hiếu thảo, chữ hiếu là
căn bản đạo đức của văn hóa lâu đời.
Người Việt rất thiết tha với mái ấm
gia đ́nh. Các món ăn ngon, dâng ba mẹ dùng như gạo
vùng An Cựu nổi tiếng thơm ngon, theo định
luật sinh tồn của tạo hóa con người
phải chết, cha mẹ c̣n sống nếu con cháu có hiếu
thảo là nguồn an ủi Người Việt
thường có phong tục sống phụng dưỡng
cha mẹ ông bà trong đại gia đ́nh.Thờ cúng tổ
tiên tưởng nhớ ông bà.Trông lên bàn thờ nhang tàn đèn
tắt, cảm thấy nỗi buồn lắng đọng
Ngó lên nhang tắt đèn
lờ
Mẫu thân đâu
vắng bàn thờ lạnh tanh !
Mẹ Già như
chuối ba hương
Như xôi nếp
luột (một), như đường mía lau
Tôm rằn lột
vỏ bỏ đuôi
Gạo de An Cựu
mà nuôi mẹ già
T́nh yêu là những rung động
của hai tầng số tâm hồn gặp nhau, ca dao
Huế cho t́nh ca đó len lỏi vào ḷng, vượt
thời gian tâm lư cũng như vật lư, t́m đến
với t́nh yêu những phút giây đợi chờ,
thương nhơ, hay giận hờn
Đường vô
xứ Huế loanh quanh,
Non sông nước
biếc như tranh họa đồ
Thương anh, em
cũng muốn vô
Sợ truông nhà
Hồ, sợ phá Tam giang (6)
Phá Tam giang ngày rày đă
cạn,
Truông nhà Hồ
nội tán cấm nghiêm
Lời nguyện
ước một ḷng thủy chung, đá ṃn theo thời
gian xâm thực nhưng ḷng người, t́nh yêu phải
một ḷng một dạ. Hạnh phúc không đánh đổi
bằng tiền, không phải ở địa vị cao
sang, hạnh phúc chính là ở chổ sống bên nhau, trong
bất cứ hoàn cảnh nào.
Khi nào cạn
nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ
mới sai lời nguyền !
Tay bưng dĩa
nuối chấm gừng
Gừng cay muối
mặn xin đừng bỏ nhau !
Núi Ngự B́nh
trước tṛn sau méo,
Sông An Cựu
nắng đục mưa trong,
Đôi ta nguyện
kết chữ đồng,
Đá ṃn sông cạn
mà ḷng thủy chung!
Dăy dọc ṭa
ngang, giàu sang có số,
Kim Long, Nam
Phổ, nước đổ về Śnh
Hai đứa
ḿnh gá nghĩa ba sinh,
Dẫu có mần răng đi nữa, hai đứa
ḿnh không thể bỏ nhau
Đôi ta kết
nghĩa vợ chồng
Đá ṃn, sông cạn
mà ḷng thủy chung !
Sông nước
thiên nhiên, cô gái chèo đ̣ duyên dáng mái tóc thề dưới
chiếc nón bài thơ. Phong cảnh nhân t́nh như một
bức tranh, đủ màu sắc, có sông hồ, có
vườn, chùa..trái cây
ngọt ngào ..
Thuyền về
Đại Lược
Duyên ngược
Kim Long
Đây là chỗ rẽ
của ḷng
Mai kia rồi
biết trên sông bến nào?
Hồ
Tĩnh Tâm giàu sen bạch diệp
Đất
Hương Cần ngọt quít thơm cam
Ai về Cầu
ngói Thanh Toàn
Cho anh về
với một đ̣an cho vui.
Ai về Cầu
ngói Dạ Lê,
Cho em về với
thăm quê bên chồng.
Đố ai biết
rít mấy chân
Cầu Ô mấy
nhịp, chợ Dinh mấy người
Đông Ba, Gia Hội
hai cầu
Có chùa Diệu
Đế bốn lầu hai chuông.
Nhớ nhung nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, những
ước mơ thầm kín thuyền t́nh cập bến yêu
đương
Kim Long có gái
mỹ miều,
Ta thương ta
nhớ, ta liều ta đi!
Nước đầu
cầu, khúc sâu khúc cạn,
Chèo qua Ngọc
Trản, đến vạn Kim Long ;
Sương sa gió
thổi lạnh lùng ;
Sóng xao trăng
lặn , gợi ḷng nhớ thương !
Nỗi xót xa khi t́nh yêu bị chia ly, buồn cuộc đời
dâu bể, cảnh vật đổi thay mỗi
người một phương trời vô định
Nước
chảy xuôi , con cá buôi lội ngược
Nước
chảy ngược, con cá vược lội ngang
Thuyền em
xuống bến Thuận An
Thuyền anh
lại trẩy lên ngàn anh ơi !
Sen xa hồ, sen
khô hồ cạn
Lựu xa đào,
lựu ngả đào nghiêng
Vàng trên tay
rớt xuống không phiền,
Phiền người bội nghĩa
biết mấy niên cho hết sầu!
Em nói với anh
như ŕu chém xuống đá,
Như rựa
chém, xuống đất, như mật rót vào tai.
Răng chừ em lại nghe ai
Qua cầu nghiêng nón
chạm vai không chào ?
Anh nói với em
như ŕu chém xuống đá
Như rạ chém,
xuống đất, như mật rót vào tai.
Bây chừ anh
lại nghe ai.
Bỏ em ở
chốn non đoài thảm chưa ?
Chia tay nhưng
vẫn mơ ngày hội ngộ, với số phận đẩy
đưa trong bi thương và gợi cảm
Cầu Trường Tiền sáu
vài, mười hai nhịp
Anh qua rồi xin kịp về sau
Kẻo mai tê bóng xế ngang cầu
Bạn c̣n thương bạn
biết gửi sầu nơi mô mà t́m ?
Chim xa rừng c̣n thương cây
nhớ cội
Người xa người tội
lắm người ơi
Thà rằng không biết th́ thôi
Biết rồi mỗi đứa
mỗi nơi cũng buồn
Tập tục ngàn xưa dựng sẳn
bức từng „môn đăng hộ đối“
một chướng ngại lớn lao viễn ảnh đen
tối của ái t́nh !!. Quan niệm hôn nhân, cha mẹ đặt
đâu c̣n ngồi đó, hôn nhân gượng ép, t́nh yêu đôi
khi phải phó mặc cho định mệnh an bài.
Núi Ngự B́nh trước tṛn sau
méo
Sông An Cựu
nắng đục mưa trong.
Đôi ta như
chỉ lộn vồng,
Nợ th́ có
nợ, vợ chồng không duyên !
Bởi v́ mẹ
thầy lánh đục t́m trong
Cho nên duyên chàng,
phận thiếp cứ long đong măi hoài !
Sự kỳ
diệu của tạo hóa, màu nhiệm của định
luật ràng buộc ái t́nh đưa đến hôn nhân, đàn
bà cần các đức tính „công dung ngôn hạnh“
nhưng không thể thiếu ḷng chung thủy.
Đôi ta kết
nghĩa vợ chồng
Đá ṃn, sông cạn
mà ḷng thủy chung !
Đi đâu cho
thiếp đi cùng
Đói no thiếp
chịu lạnh lùng có đôi !
Lên non em cũng
lên theo
Xuống
thuyền em cũng đắp đeo mạn thuyền !
Ca dao là kho tàng văn chương b́nh dân
vô giá, đi vào chiều sâu tâm t́nh vừa như nhớ
nhung, nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, gợi lại h́nh
ảnh xa xưa thời thơ ấu, kỷ niệm khó
quên. Bài tham khảo không tránh những thiếu sót nhưng
nhắc lại ca dao, mong sưởi ấm tâm hồn trong
những ngày xa quê hương!
Chim bay lưng
trời mà c̣n có tổ
Cá lội
giữa ḍng vẫn có hố hang
Người đời
đă có tổ-quốc giang-san
T́nh thần ư chí
phải nhịp nhàng với non sông
Munich
cuối Hạ 2002
(1)
Dưới thời vua Tự Đức để lại
chiến công hiển hách, quân Pháp từ Thuận An tiến
về Kinh thành Huế, bị quân triều đ́nh mai
phục bất th́nh ĺnh đổ trái mù u ra mặt đường,giặc
Pháp bị bất ngờ đạp trên trái mù u té, phục
quân đổ ra đánh chém, giặc Pháp thua chạy dài, các
hàng cây mù u xanh tươi của Xă Tắc c̣n đó, gợi
lại niềm tự hào dân tộc đă chiến thắng
quân xâm lược.
(2) Các đại
thần như Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và Tôn
Thất Thuyết (1835-1913) đă chuyên quyền, cách chức
ngự sử Phan Đ́nh Phùng (1844-18959, và Ông Ích Khiêm. Trong
bốn tháng kể từ ngày Tự Đức mất triều
đ́nh phế lập ba vua.
Vua Hàm Nghi trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp ngày 23.4.1885 thất
bại bỏ Kinh thành và thảo hịch Cần
Vương, bị bắt ngày 26.9.1888 đày sang Algérie
(3) (Kiên
Thái Vương con thứ 26 vua Thiệu Trị có 5 trai hai
gái, con đầu là vua Đồng Khánh(1863-1888), con thứ ba là
Kiến Phúc(1872-1943) mất, con thứ năm là Hàm Nghi
(1872-1943)
(4) Ông Ích
Khiêm (1840-1890) khảng khái
ở trong ngục đă ngâm hai câu thơ trên, Sông
Hương chia hai gịng nước, th́ khó nói chuyện,
một bên trong bên đục. Ngụ ư bờ bên kia là ṭa
Khâm xứ Pháp, bên nấy nầy thuộc Nam triều
Trong bốn tháng phế
lập ba vua Dục Đức, Hiệp Ḥa, Kiến Phúc
Hai chữ cuối của
hai câu trên ám chỉ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn
Tương
(5)
Cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân (1900-1945) năm 1916 thất bại vua Duy
Tân bị bắt ngày 6-5-1916 bị đày san đảo
Réunion. Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên(1882-1916) cùng
nhiều người yêu nước tham gia phong trào đều bị tử h́nh tại pháp
trường An Ḥa gần Huế. trong dân gian c̣n ghi nhớ,
bến Văn Lâu nơi gặp gỡ của vua Duy Tân
giả đi câu che sự theo dỏi của mật thám
Pháp, bàn việc đại sự khởi nghĩa chống
Tây
(6) Truông
là đồi cát có nhiều cây cối gọi là truông nhà
Hồ địa danh Hồ Xá, Vĩnh Linh Quảng Trị
thưở xa xưa nhiều toán cướp, cướp
hành lư khách qua truông. Phá Tam Giang phá là hồ rộng lớn
ở huyện Quảng Điền có 3 sông hợp lại
Tả Giang,Trung giang, Hữu giang
Chú thích thêm về các thổ
ngữ của người
Huế Mẹ = mạ; ngó =
nh́n ; ngủ muồi = ngủ cho ngon; đi mô = đi đâu;
mai tê = mai kia , răng chừ =
sao giờ; con rít = con rết; mần răng = làm sao;
cái rạ = cái rựa..
Sau tết Mậu
Thân 1968 Huế đau thương trong máu
lửa có thêm ca dao
Mậu thân giặc
chiếm Huế đô
Đốt nhà ,
cướp của, đào mồ chôn dân !
Làm sao quên được
mậu thân
Cộng quân tàn ác
giết dân hại ḿnh
Mậu thân
cộng chiếm Huế đô
Đông Ba, Gia Hội
thành mồ chôn dân !!
Tài
liệu Tham Khảo
Cố Đô
Huế Tác giả Thái Văn
Kiểm
Việt
Nam Sử lược T.giả Trần Trọng Kim
Kinh Thi
Việt Nam
Cao dao
www.cadaovn.eu.tc