Nhà chính trị kinh bang tế thế

                             NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

      (1828 – 1871)


  Đất nước sơn hà ai đó chủ
 
           Biết đem tâm sự hỏi trời thôi“

                                                                                                                 

            Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 tại làng Bùi Chu, xă Đoài, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ ông Nguyễn Quốc Thư hành nghề Đông y sĩ, xuất thân gia đ́nh ảnh hưởng Nho giáo, theo đạo Thiên Chúa Giáo. Lên mười tuổi thân phụ dạy học chữ Hán cho đến năm 14 tuổi theo học tiếp tục với thầy tú Giai ở Bùi Ngoă.

            Nguyễn Trường Tộ thông minh xuất chúng năm 1855 được Giám mục xứ Đoài, người Pháp Gauthier, tên Việt nam là Ngô Gia Hậu, mời dạy chữ Hán cho các Giáo sĩ và ngược lại ông học tiếng Pháp và La Tinh, ảnh hưởng Văn hóa Tây- và Đông Phương học hỏi các tư tưởng mới lạ, uyên bác sống tích cực, hoạt động có trách nhiệm với Quê hương và một ḷng v́ Đạo.

Người Việt vốn sống hiền hoà trọng lễ nghiă, trung dung sinh hoạt về tôn giáo Phật, Lăo, Khổng vv..dù khác nhau Tôn giáo nhưng đoàn kết, tín ngưỡng đều được tôn trọng. Các Giáo sĩ người Bồ Đồ Nha ( Portugal ) vào Việt Nam truyền giáo vào khỏang năm (1522-1533) cho đến năm 1615, giáo sỉ F. Buzoni (1576-1639) người Tây Ban Nha ( Spain ) đến Hội An truyền đạo. Trong số nầy hai giáo sĩ Fracesco de Pina và giáo sĩ Alexandre de Rohdes (1593-1660) với sự tiếp tay của người Quảng Nam góp phần sáng chế ra chữ Quốc ngữ. Người Việt đều quư trọng.

Nguyễn Trường Tộ tín đồ Thiên Chúa Giáo, trưởng thành trong giai đoạn lịch sử bị thực dân Pháp chiếm các nước Đông Dương và Việt Nam .  Từ đó triều đ́nh vua quan Việt Nam không thích việc truyền Đạo. Mặc dù có một số giáo sĩ Thiên Chúa giúp vua Gia Long trong thời gian khôi phục lại sơn hà, đóng góp vào sinh hoạt văn hóa Việt Nam . Đào tạo lớp người mới  Paulus Hùynh Tịnh Cuả, Petrus Trương Vĩnh Kư để lại hơn 100 tác phẩm Văn học biên khảo, có công mang hột giống, cây, hoa qủa lạ như : sầu riêng, măng cụt, măng cầu, lôm chôm từ Pinang Malaisia về trồng tại miền Nam

Đổi thay qua nhiều triều đại, từ đời vua Minh Mạng (1820-1840) Tự Đức (1847-1883), Thiệu Trị (1840-1847) nghi ngờ các giáo sĩ thân Pháp đến truyền giáo tại Việt Nam.  Thiên Chúa bị gọi là „ tả đạo “ lúc bấy giờ không phải chỉ riêng Vua mà quan lại, sĩ phu ít người hiểu về giáo lư của Đạo Thiên Chúa giáo, chỉ thấy việc truyền đạo có nhiều điều trái với Nho giáo và phong tục tập quán

Giáo luật của Ṭa thánh La Mă lúc bấy giờ c̣n qúa cứng trong khuôn khổ khó phù hợp với xă hội Việt Nam ? Nguồn gốc người Việt lâu đời trong đạo Thờ cúng ông bà Tổ Tiên, mỗi nhà có bàn thờ tượng trưng như một truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam , không ai có quyền cấm đoán. Phật giáo, Nho giáo cũng du nhập từ Trung Hoa, Ấn độ hay Nhật bản nhưng luôn tôn trọng tập tục của người Việt 

„ Giáo luật Thiên chúa thời đó ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên, ngày kỵ giỗ tưởng nhớ ông bà hay làm tang lễ cho thân nhân, Giáo dân chỉ xin lễ tại nhà thờ, không được làm lễ tại nhà ? Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng truyền thống tinh thần xă hội và triều đ́nh Việt nam. Nên không thể tránh được những mâu thuẫn.“

   „ Kể từ đầu thập niên 60, Cộng đồng Vaticanô 2 Giáo hội Thiên chúa giáo La mă (Roma) mới có những thay đổi để phù hợp với văn hoá các nưóc trên thế giới. Riêng tại Việt nam giáo dân có thể thiết lập bàn thờ và tổ chức cúng kỵ ông bà cha mẹ tại nhà.“

Triều đ́nh ban hành các Dụ cấm đạo, việc làm hơi „vơ đũa cả nắm“ trong giai đoạn cần phải đoàn kết Lương-Giáo cùng nhau bảo vệ độc lập, không phải ai theo Đạo đều tiếp tay cho giặc. Giết Giáo, dân trục xuất giáo sĩ không khác ǵ đổ dầu thêm vào lửa. Không thống nhất kế hoạch ổn định nhân tâm, đem lại các giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử. Nhật Bản áp dụng chính sách bế môn năm 1620 v́ lo ngại việc truyền đạo vào nước Nhật, nhưng họ sớm canh tân, mở cửa đón nhận văn minh thế giới, đă trở thành một cường quốc. Triều đ́nh Việt nam bế môn toả cảng không bang giao với Tây Phương, bởi vậy không tránh được sai lầm trong chính sách cai trị, vốn từ lâu chiụ ảnh hưởng Trung Hoa. Nước Việt Nam đă gần 100 năm làm thuộc điạ, kéo dài cuộc chiến khổ đau cho dân tộc..

Quốc gia không được canh tân, chọn người đủ tài đức ra giúp nước, không cải cách sửa đổi sai lầm trong việc cai trị, độc tài độc đảng sẽ đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm . Dân chủ là môi trường phát sinh ra những tư tưởng mới, khoa học kỹ thuật phát triển đưa đời sống nhân dân tiến bộ căn bản gồm : dân sinh, dân quyền và dân trí. Các vua thời phong kiến, không tôn trọng ư kiến của Nguyễn Trường Tộ và những người yêu nước khác, để canh tân đất nước. Thế hệ chúng ta sinh sau Nguyễn Trường Tộ hơn một thế kỷ, có thể rút ra được nhựng bài học từ sự kiện lịch sử đó hay không ?  Đó là một bài học lịch sử giá trị con cháu chúng ta không thể quên. 

Năm 1825 tàu chiến Pháp Theles tới Đà Nẵng. De Bougainville đem thư vua Pháp xin vào yết kiến, vua Minh Mạng không tiếp, sai đem phẩm vật biếu tặng. Năm 1825, Giáo sĩ Roggerot sang xin giảng đạo, trong lúc vua Minh Mạng cấm đạo (dụ cấm đạo lần thứ 1) Năm 1826, Pháp Hoàng sai Chaigneau sang xin đặt lănh sự, vua Minh Mạng từ chối

Năm 1833 ra dụ cấm đạo  lần thứ 2

Năm 1836 cấm đạo lần thứ 3 từ năm 1834-1838 có 7 Giáo sĩ bị giết

Năm 1838 Vua sai sứ sang Pháp, Hoàng Đế Louis Philippe không tiếp v́ Hội Truyền Giáo quốc tế phản đối những dụ cấm đạo tại Việt Nam .

Năm 1847 đại tá Lapiered sang Việt Nam yêu cầu nhà Vua bỏ lệnh cấm đạo

15-04-1847 chiến tranh bắt đầu, vua Thiệu Trị cho giết giáo dân và giáo sĩ trục xuất người Tây phương.

Tháng 7-1858 Rigault de Genouilly đem liên quân Pháp đánh hạ thành An Hải và Điện Hải tại Đà  Nẵng

Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Vào ngày 01-11-1859, ông Page đến xin vua Tự Đức kư Ḥa ước xin ngoại giao, buôn bán và truyền đạo, nhưng các điều kiện trên đều bị từ chối. Vua Tự Đức thông minh nhưng nhu nhược, sống đóng khung trong cung, sợ sự chống đối của quan lại, không quyết định được vận mệnh đất nước. Người Pháp lợi dụng việc cấm đạo gây chiến tranh xâm chiếm Việt Nam

            Nguyễn Trường Tộ nhờ Đạo tiến thân, là một công dân Việt Nam tài ba lỗi lạc, nhưng không được triều đ́nh trọng dụng. Khó có cơ hội thăng tiến trong cử nghiệp, có thể lư do ông tham gia khoa thi năm 1848 (canh tư). Năm 1858 ông theo Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn „phân pháp“ đàn áp tôn giáo cấm đạo của Triều đ́nh. Sau đó sang Pháp bằng đường thuỷ, trong thời gian lưu lại Pháp nh́n thấy được văn minh, khoa học kỷ thuật cao .

            Ông  bỏ nhiều th́ giờ đọc sách học hỏi thu thập tinh túy, chọn lọc làm hành trang trở lại quê hương, mong đóng góp được cái hay đẹp, hữu ích xây dựng đất nước. Trên đường trở về ghé Roma tiếp kiến Đức Giáo Hoàng, sau đó đến Hồng Kông. Về đến Sài G̣n nhiều đổi thay, Gia Định thành thất thủ tháng 02-1861 bị quân đội Pháp chiếm đóng. Ông được bổ dụng làm thông ngôn tại Sứ phủ Sài G̣n, dịch các văn bản giấy tờ làm gạch nối giữa triều đ́nh và Pháp.

            Năm 1961 ông gởi cho triều đ́nh Huế qua đại thần Nguyễn Bá Nghi, văn bản ḥa từ đề nghị triều đ́nh nên hoà với Pháp tránh chiến tranh gây khổ đau cho dân tộc

  “sự thế hiện nay chỉ có ḥa, ḥa th́ trên có thể thuận ư trời dưới dân, có thể làm cho dân khỏi đau khổ,chấm đứt sự ḍm ngó của gian nghịch „

Năm 1862 Đô đốc Bonard mở rộng cuộc chiến, trước thái độ hung hăn hiếu chiến khát máu. Ông nh́n thấy bất măn không cộng tác, xin thôi việc tại soái phủ Sài G̣n. Nguyễn Trường Tộ tự khép ḿnh trong bổn phận Đạo và Đời, trách nhiệm cao cả người con của Chúa, và người con của dân tộc Việt Nam .  Ông phục vụ cho Giáo hội và nghiên cứu viết những điều trần kế tiếp giá trị, để góp ư trong việc xây đựng đất nước, có thể nói Nguyễn Trường Tộ nhà tu, một chính trị gia lỗi lạc. Ông kêu gọi phải chán chỉnh lại học thuật „Học tức học cái chưa biết, biết để mà làm, làm tức là làm những công việc thực tế trong nước và để lăi việc làm hữu dụng đó cho đời sau nữa“. Trước đó  Nguyễn Lộ Trạch viết nhiều điều trần, mong đất nước được canh tân, đến ngày nay chúng ta phải ngưỡng mộ, nhưng triều đ́nh bỏ quên trong ngăn tủ nào đó.

Các điều trần dưới xă hội phong kiến, như một ánh sáng lóe lên trong đêm tối của lịch sử, mong muốn triều đ́nh thay đổi cách cai trị, mở rộng ngoại giao, tiếp xúc với Tây phương, bỏ lối học từ chương, ngâm thơ vịnh nguyệt. Nên học hỏi văn minh tiến bộ, gởi du học sinh ra nước ngoài, mong học về khoa học kỹ thuật, hy vọng học xong về nước phát triển về kỷ nghệ, Triều đ́nh  luôn giữ chính sách bế môn tỏa cảng. Phan Thanh Giản từng than thở khi đi sứ sang Paris về nói chẳng ai nghe

Từ ngày đi sứ tới Tây-kinh

Thấy việc Âu-châu phải giật ḿnh

Kêu tỉnh đồng-bang mau kíp bước

Hết lời năn-nỉ chẳng ai tin

Nguyễn Trựng Tộ giống như Phan Thanh Giản viết lên nỗi ḷng :

  - Khi trong nước cái Đạo bị diệt, tôi vượt sông lội biển để giữ lấy cái chân lư ở nước người , trước những người quyền quư, tôi luôn nói thận trọng, làm việc nghĩ trước suy sau nhằm giữ thể diện cho nước ḿnh...Tôi tuy là Gíáo, nhưng ḍng máu trong tôi vẫn là con Lạc cháu Hồng. Tuy nhà Vua chưa tin tôi, đ́nh thần c̣n e dè tôi, song ai làm nhục đến các bậc công khanh nước ta, tôi đều biện bác ngay không một chút sợ sệt. (Trang 145 Phan thanh Giản nỗi đau trăm năm) ***

 

Nguyễn Trường Tộ sinh bất phùng thời, được xem như một thiên tài, kinh bang tế thế, kiến thức vượt qua các quan lại, khoa bảng trong triều đ́nh. Vua trị v́ với tính cách cha truyền con nối, nhưng tiếc thay quan lại trong triều không sáng suốt, cương trực để lắng nghe ư kiến đóng góp xây dựng, đem ra bàn căi, tổ chức phương pháp làm việc. Các quan thích sống ngâm thơ vịnh nguyệt, bảo thủ yên phận, đôi khi tỏ ra ganh ghét đối với Nguyễn Trường Tộ.

 

             Chúa Giêsu  từng phán dạy

 

- nếu các ông mù, th́ các ông đă chẳng có tội nhưng v́ các ông nói chúng tôi nh́n thấy được, nên tội các ông vẫn c̣n đó. ( Ga 9, 41)

 

 Các Quan lại trong các triều đại Việt Nam không mù, nhưng họ không sáng suốt mở mắt nh́n xa trong việc giúp Vua trị nước, để đưa Dân Tộc Việt Nam khỏi cơn nô lệ !! Nguyễn Trường Tộ viết trong di thảo số 27:

 

 - Phàm kẻ trong thiên hạ là người không phải không có lầm lạc ban đầu, mà là người biết thay đổi hành động, biết sửa điều sai thành đúng đắn, không xấu hổ v́ phải sửa đổi cái cũ, mà xấu hổ v́ không làm được điều ǵ mới, không nh́n lui dĩ văng mà chuyên mưu việc tương lai, không nghĩ đến bảo toàn tên tuổi riêng ḿnh mà lo lợi ích chung cho đất nước, thế mới gọi là trí

 

            Người Pháp muốn kư Ḥa ước v́ lúc nầy Pháp và Anh đang gặp các chuyện rắc rối bên Trung Hoa nên chính phủ Pháp muốn tŕ hoăn, để đối phó với Tàu.(1) Phó đề đốc Page tiếp tục việc thương thuyết của Rigault de Genouilly. Nhưng với nội dung không đ̣i đất, chỉ đ̣i binh phí, tự do truyền giáo, khai thương ba cửa biển và đặt trú sứ ở Huế (Quân sử tập 3 trang 82) Triều đ́nh có hai phe ḥa và chiến. Phe chủ chiến nhiều hơn v́ lúc nào cũng tự hào, truyền thống đánh đuổi được ngoại xâm. Nhưng họ quên rằng lối chiến tranh cổ điển, bằng gươm giáo, súng điểu thương, bắn từng phát đạn không c̣n thích hợp với cuộc chiến tranh mới.

 

Quân đội Tây Phương được huấn luyện, vũ trang hiện đại với súng đại bác, tàu thủy chạy nhanh trên sông, biển. Nếu so sánh cân bằng, lực lượng quân đội triều đ́nh Việt nam quá lạc hậu và yếu kém. Quân triều đ́nh dù có ḷng yêu nước tinh thần chiến đấu cao, không thể đối đầu với đội quân tinh nhuệ của liên quân Tây phương. Đồn Chí Ḥa dưới quyền chỉ huy Kinh Lược Sử Nguyễn Tri Phương, quân số hơn 12.000 quân, không thể chống cự lại với liên quân Pháp, Tây Ban Nha.

 

Nguyễn Trường Tộ, trong Thiên Hạ Phân Hợp Đại Thế Luận, có cái nh́n xa đối với t́nh h́nh thế giới, ông chủ trương nên hoà hơn chiến, lợi dụng kế ḥa hoăn để kiện toàn quân đội, canh tân đất nước. Thay đổi chính sách đối ngoại và đối nội, cải cách Văn hoá, Kinh tế, Khoa học, khai mỏ, mở mang dân trí tiến bộ. Khi đất nước Việt nam mạnh phú cường có thể dành lại những ǵ đă mất.(tùy thời nhi ứng biến) thật là một diệu kế .

 

    - Hàn công nói : biết mà không nói là kẻ bất nhân, nói mà không nói hết là kẻ bất nghiă Thế cho nên tôi ở chốn giang hồ mà ḷng gởi lại lăng miếu. Tôi thật không nỡ nh́n thấy nước nhà đổ nát trăm họ lưu ly, cho nên không xét phận hèn mọn mà dám phạm vào lỗi nói ngay thẳng. Nếu cho lời tôi là khi trá hoặc là có ai xuí giục th́ xin đem biểu nầy treo ở quốc môn để sau nầy làm chứng. (Điều trần thời sự)

 

             Nguyễn Trường Tộ được Vua Tự Đức mời về Huế tiếp kiến tại nhà Tả Vu, ông đệ tŕnh nhà Vua văn bản khuyên dùng Giám mục, Linh Mục vào việc canh tân đất nước. Vua Tự Đức đồng ư những điểm trong điều trần của Nguyễn Trường Tộ. Ngày 10-01-1867 cử Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier, Lm Nguyễn Điều, phó tế Nguyễn Hoàn và Joannes Vị và các Quan triều đ́nh : Nguyễn Tăng Doăn và Trần Hiếu Đạo đáp tàu L’ orne đến cuối tháng 3 năm ấy đến  Paris

 

Đến Pháp lần thứ hai có cơ hội đi thăm viếng, tiếp xúc với tính cách ngoại giao. Từ đó ông thấy thêm những việc cần phải làm, đưa đất nước sớm vượt qua cảnh nghèo khổ, lạc hậu và viết điều trần „Tế cấp bát điều“ tập dày giá trị bậc nhất trong các điều trần (tác phẩm ) Nguyễn trường Tộ về văn chương và tư tưởng

 

1/  Sửa sang vơ bị

2/ Hợp tỉnh huyện giảm quan lại

3/ Cải cách tệ lạm để cứu văn tài chánh

4/ Chỉnh đốn học pháp

5/ Điều chỉnh thuế ruộng

6/ Kinh lư bờ cơi

7/ Điều tra dân số

8/ Lập Dục anh viện và Tế bần viện

 

            Về nước ngày 29.02.1868 phái bộ đến Huế, tường tŕnh kết quả trong việc ngoại giao Nguyễn trường Tộ và Giám mục Gauthier được ban thưởng nhiều phẩm vật. Trong thời gian trở về quê nhà, giúp xây cất cơ sở nhà Chung xă Đoài. Tiếp tục viết nhiều điều trần. Triều đ́nh muốn mời Nguyễn Trường Tộ đi với phái đoàn sang Paris xin giảng ḥa, thương nghị về 6 tỉnh miền Tây. Bọn thực dân chiếm ngày 24.06.1867, Phan Thanh Giản ngày 04.08.1867 uống thuốc độc tự tử. Ông viết bản điều trần gởi “lục bộ đại thần“ xin băi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp, ông nêu lư do sau :

 

-Xưa nay việc giảng ḥa đều ở dưới THÀNH (các trận đánh) chứ không ở Kinh Đô. Ta trong thế yếu, địch chưa gặp khó khăn ... bây giờ chính lúc triều đ́nh nên tính kế lâu dài, dần dần nuôi dưỡng sức dân, chỉnh đốn vơ bị, mở rộng giao thiệp..

 

Nguyễn Trường Tộ viết nhiều đề tài khác nhau về quốc kế, dân sinh.. khoa học, kinh tế, xă hội. Cải cách về chương tŕnh học đưa ra đề nghị các khoản :

 

 

1/ Đặt khoa nông chính

2/ Đặt khoa thiên văn  địa lư

3/ Đặt khoa cơ xảo

4/ Đặt khoa luật pháp

 

Đề nghị mở khoa nông chính dạy những môn :

 

1/ Thiên văn nông nghiệp

2/ Địa lư học nông nghiệp

3/ Thực vật học

4/ Địa văn khí tượng học

5/ Tổ chức nông nghiệp trong nước

 

Ngoài ra, về Công nghiệp nước Việt Nam “tiền rừng bạc biển”, đó là những nguồn lợi lớn đem lại lợi ích, phú cường cho đất nước, phải khai thác với phương pháp khoa học cần máy móc hiện đại, đó về khai thác mỏ (khoáng lợi); Hải lợi cá muối ; Lâm sản cây gỗ, Thổ lợi gai, tơ lụa. 

 

Điều trần của Nguyễn Trường Tộ, được các quan đại thần như Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành, Nguyễn Bá Nghi ghi nhận. Tường tŕnh về triều đ́nh, tiếc thay triều đ́nh không ứng dụng hết vào việc canh tân đất nước. Ông không thể tŕnh bày hết suy tư, ḷng yêu nước trong thời gian c̣n trẻ, (tháng 7 năm 1864, ông bị tai nạn té găy vùng xương chậu trong khi trông coi xây cất Giáo đường, từ đó bị tật đi khập khiễng), cho đến lúc bệnh thấp khớp không đi được nằm viết trên giường bệnh trước khi từ gĩa cơi đời, mất 22.11.1871 hưởng thọ 43 tuổi. Ông để lại mấy câu thơ bất hủ.

 

Nhật mộ tuy vô hồi chiểu xứ

Qui hoa tự hữu hướng dương thần

 

Tạm dịch

 

Vừng nhật dù không quay dọi lại

Ḷng quỳ vẫn cứ hướng mà theo

 

Nguyễn trường Tộ ra người thiên cổ trong nước Chúa, nhưng Lịch sử không quên Nguyễn Trường Tộ đă góp công trong việc xây dựng Quê hương, được ca tụng qua những bài thơ sau: (2)

 

Non sông thiêng sáng đúc nên tài

Những ước ra tâm gíup giống ṇi

Lấy đạo nghiă xưa làm mực thước

Đem khoa học mới để trao đời

Bao phen xuất ngoại ḷng nuôi mộng

Mấy độ trần t́nh lệ nhỏ rơi.

Hôn ám  kể chi phường sống tạm

Ngh́n thu luống để tiếc thương ai

 Á Nam Trần Tuấn Khải

 

      Nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng dành cho Nguyễn Trường Tộ một chổ đứng trong văn học Việt Nam

 

Vô đoạn vật sắc đáo trần ai

Măn phúc kinh luân bát điệu tài

Tiền nghịch ngẩu thừa tuyên thất triệu

Hận nhan trường kỉ sính đo ai

Di văn thương hải châu do tại

Ḱ khí phong thành kiếm vĩnh mai

Thông uất giang sơn kim thị tạc

Tao hồn ứng phục quốc hồn lai

 

Bản dịch

 

Bỗng dưng vật sắc đến trần ai           

Đầy bụng kinh luân tám đẩu tài

Tiệc trước t́nh cờ vua triệu đến

Người sau nhớ măi chuyện bi ai

Biển xanh ghi lại châu c̣n đó

Vú kiếm phong thành có một ai?

Nghẹn uất non sông ngay chính đó

Li tao xua đuối quốc hồn lai

 

 Nguyễn Trường Tộ là một người Việt Nam ưu tú của dân tộc, cống hiến cho Tổ Quốc Việt Nam.  Ông đă phục vụ Quê hương, Dân tộc và Phụng Sự Thiên Chúa.  Đó là tấm ḷng yêu nước vô tư không vụ lợi, không oán trách hận thù. Thương tiếc ông mất sớm, ước mơ của ông không thực hiện được dưới thời quân chủ chuyên chế. Nhưng Nguyễn Trường Tộ thể hiện tinh thẩn của một kẻ sĩ yêu nước, trọn vẹn cho đến hơi thở cuối cùng. Thật là một tấm gương trong sáng, mọi người phải tôn kính và noi gương.

 

    Nguyễn Quư Đại   

 

1/ chiến cuộc giữa Tây và Tàu chấm dứt hiệp ước Bắc kinh được kư vào ngày 25-10-1890. Đề đốc Charner, người chỉ huy mặt trận Ḥang hải của Pháp, được giữ chức Tổng tư lệnh quân đội Pháp, rảnh tay ở Tàu quyết định đánh chiếm Việt Nam

2/ Tự đ́ển danh nhân Việt Nam

 

***  theo tác giả Thanh Đạm NxB Văn Nghệ viết „ vào khoảng năm 1868, Nguyễn trường Tộ trở về Xă Đoài giúp xây nhà chung và trong thời gian nầy cưới người yêu Vũ Thị Cam quê Xuân Mỹ , cưới vợ có một người con tên là Nguyễn Trường Cửu „  sđd trang 274