NGƯỜI VIỆT Ở ĐỨC
Nguyễn Quư Đại
Người Việt Nam đến Đức với nhiều hoàn cảnh khác nhau: du học, nạn nhân chiến cuộc, thuyền nhân (boat people), khách thợ (lao động) đến từ các nước Đông Âu. Nước Đức trước đây cũng bị chia đôi như Việt Nam, nên dễ dàng mở rộng ṿng tay nhân ái để đón nhận người Việt đến tị nạn đến Tây Đức. Chúng ta nh́n lại bối cảnh lịch sử Đức và đời sống người Việt đă chọn nước Đức làm quê hương thứ hai
Đệ Nhị Thế Chiến:
Adolf Hitler (1889-1945) được sự ủng hộ đa số phiếu của phái bảo thủ lên cầm quyền từ năm (1934-1945). Sau thời gian củng cố quyền lực, chính quyền Hitler tước quyền của 6 triệu người Do Thái, đưa họ vào các trại tập trung, ḷ hơi ngạc giết chết hàng loạt. Hitler ra lệnh tổng động viên, ngày 01.9.1939 chớp nhoáng đánh chiếm Poland, tháng 4.1940 chiếm Danmark và Norway, tháng 5 đến tháng 6 chiếm Holland, Belgium, France, Luxenbourg, tháng 4 chiếm Yugoslavia, Greece, tháng 6.1940 chiếm các lănh thổ của Nga (Sowjetunion) : Estonian,Latvia,Lithuania,Stalingrad...khởi đầu cho thế chiến thứ hai
Từ 1944-1945 Đức bị quân đội tứ cường Anh, Mỹ, Pháp, Nga phản công chiếm đóng, các thành phố bị ném bom hư hại. Riêng Berlin bị 2.643 tấn bom, làm 70% nhà cửa hư hại, 49.600 người chết. Berlin dù được tái thiết nhưng hiện c̣n giữ lại ngôi Giáo đường cụt đầu làm di tích chiến tranh.
Nhà Thờ cụt đầu Berlin
Hồng quân Nga trả thù tàn sát, hảm hiếp, cướp của, giết người, đốt phà hàng trăm ngàn người Đức phải chạy trốn bằng đường bộ dưới trời đông tuyết giá, hoặc dùng tàu, thuyền chạy trốn, bị tàu ngầm Nga húc ch́m khoảng 9000 người chết. (1) Ngày 30.4.1945 Hitler tự từ Người kế vị là Karl Doenitz đă đầu hàng vô điều kiện ngày 9.5.1945. Chiến tranh để lại đau thương, nghèo đói và đổ nát.
Chiến tranh lạnh, nước Đức bị chia đôi Đông và Tây:
Ngày 6.06.2004 năm nay, toàn châu Âu làm lễ kỷ niệm 60 năm cuộc đổ bộ của quân đồng minh vào băi biển Normandy của Pháp, mở màn mặt trận Đại Tây Dương đánh phát-xít Đức. Sau Thế Chiến II Stalin, Roosevelt và Churchill đă chia Đức và Áo thành các vùng chiếm đóng. Từ năm 1949 phần đất phía Tây Berlin do quân đội đồng minh chiếm đóng, thành lập Cộng Ḥa Liên Bang Đức Thủ tướng đầu tiên Theodor Hess (1949-1954). Phần đất phía Đông do Hồng quân Nga cai trị, thành lập Cộng Ḥa Dân Chủ Đức (DDR) theo chủ nghĩa cộng sản dưới sự lănh đạo của chủ tịch Wilhelm Pieck (1949-1960).
Các nước Đông Âu bị Hồng quân Nga tái chiếm thành lập khối cộng sản, xây hàng rào ngăn cách, gây cuộc chiến tranh lạnh từ năm1946, biên giới dài 1.378,1 Km, từ biển Đông Hải (Ostsee) đến cuối biên giới Tiệp Khắc (Tschecholoslowakei) gồm 1.266,5 km bằng kẻm gai (MGZ) và 1.196,4 km kiểm soát bằng điện (SSZ) rộng 10 m, tất cả 621 cḥi canh gát, 595 hầm trú ẩn (2). Thủ tướng Anh Churchill (1874-1965) „cay đắng gọi sự chia cắt Đông Tây Đức đi vào lịch sử chính trị thế giới, đánh dấu thời kỳ đen tối kéo dài nhất của các dân tộc Âu Châu trong thế kỷ 20. Cũng chính Churchill cảnh báo thế giới rằng Liên Xô dưới thời Stalin sẽ trở nên nguy hiểm cho nhân loại không kém gì chế độ phát-xít của Hitler“ .
Người Dân Đông Đức (DDR) nhiều lần đứng lên đ̣i hỏi tự do các cuộc biểu t́nh bị các chiến xa Liên Xô dẹp tan cuộc nổi dậy của các giới công nhân, đă dám đứng lên chống lại chế độ Cộng Sản Đông Đức, do Liên Xô dựng lên. Cuộc nổi dậy tuy không thành công, nhưng giờ đây được xem là tiếng kêu gọi đ̣i tự do đầu tiên tại vùng Đông Âu này, chỉ mới lọt vào quỹ đạo của cộng sản sau Đệ Nhị Thế Chiến, tức chưa đến 10 năm. Tính chung ra có đến hơn một triệu người đă lần lượt tham gia vào các cuộc biểu t́nh đ̣i dân chủ, kéo dài suốt 5 ngày liền, đă diễn ra tại nhiều vùng khác nhau của Đông Đức, nhưng ngày tập trung đông đảo nhất là vào ngày 17-6-1953, khi những người biểu t́nh đă làm bế tắc mọi sự lưu thông, đồng thời giao chiến ngay trên các đường phố với các lực lượng công an Cộng Sản, tại Đông Bá Linh. Tuy cộng sản Đông Đức bưng bít khá kỹ càng sự kiện này, nhưng các tin tức lọt ra được bên ngoài bức màn sắt vào lúc đó, cho biết đă có ít nhất 125 người biểu t́nh thiệt mạng v́ bị bắn chết hay chiến xa cán chết, trong khi có đến 15,000 người bị bắt giữ ngay lúc đó hay trong các thời gian kế tiếp. Các sử gia và chính trị gia đều công nhận rằng, các cuộc biểu t́nh qui mô này, đă mở đầu cho nhiều cuộc nổi dậy chống cộng sản sau đó, ngay trong ḷng khối cộng sản Đông Âu này, mà lần lượt xảy ra tại các nước như Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc (với Mùa Xuân Praha 1968) cũng bị xe tăng của Hồng quân Nga can thiệp bằng bắn chết người biểu t́nh,. Nếu du khách đến Quảng trường ở Praha/ Prag c̣n những tấm h́nh và Thánh Giá tưởng niệm người bị giết trên bồn bông hoa hồng nở đỏ .
Xây bức tường ngăn cách Đông Tây năm 1961
Từ năm 1952 đến 1961 hơn 3,5 triệu người bỏ Đông Đức (DDR) không chấp nhận chế độ cộng sản độc tài, sang Tây Đức t́m tự do. Chủ tịch đảng Walter Ulbricht (1960-1973) ra lệnh xây bức tường ngăn cách Đông và Tây Đức vào đêm 12 rạng ngày 13.08.1961 dài 168,8 km, chia thành nhiều đoạn, 107km bằng beton, 60 km hàng rào kẻm gai, Tại Berlin tường cao từ 3,50 đến 4,20 m dày 50 cm. Việc xây tường làm 10 ngàn căn nhà bị phá hủy, 1.233 cửa sổ các nhà lân cận xây kín, từ tường ra100m là bải ḿn, có đặt súng bắn tự động 302 cḥi kiểm soát 43 pháo đài, 259 nơi nuôi chó săn người. Từ ngày 13 08.1961 đến ngày 9.11.1989. Bức tường ô nhục chỉ tồn tại 10.315 ngày (22 năm). Đêm 09.11.1989 Brandenburger Tor mở cửa, kế tiếp ngày 01.12. 1989 mở toàn bộ 22 cửa thông thương. Bức tường bị đập bỏ chỉ c̣n lại vài nơi lưu dấu tích lịch sử và tưởng nhớ 265 người bị bắn chết khi vượt tường t́m tự do
Cổng Brandenburger Tor ở Berlin
Đức Thống Nhất:
Ngày 03.10.1990 nước Đức thống nhất có 16 tiểu bang, diện tích 357.022 km2 dân số 81,8 triệu trong đó có 7,3 triệu người ngoại quốc. Quân đội tứ cường có mặt từ ngày 5.6.1945 chấm dứt nhiệm vụ đóng quân tại Berlin và Liên Bang Đức ngày 12.09.1990
Đệ nhị thế chiến chấm dứt, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục cuộc nội chiến (quốc cộng). Ngày 30-04-1975 kết thúc chiến tranh, thống nhất hai miền, nhưng hoàn toàn không chủ trương như Chính phủ Đức thi hành tự do dân chù. Cộng sản Việt Nam áp dụng chính sách độc tài, người dân miền Nam bị trả thù hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, các chuyên gia của chế độ cũ bị đưa vào trại tập trung cải tạo trong rừng sâu nước độc, những nạn nhân bị cướp đoạt tài sản, dù không tham gia chính quyền như : kỹ nghệ gia, thương gia, thầu khoán ai có tài sản nhờ dành dụm tiền có vốn kinh doanh buôn bán bị kết tội „tư bản mại sản „ đều bị đánh tư sản đuổi họ đi vùng kinh tế mới, đổi tiền năm 1975 và 1978 làm suy thóai kinh tế miền Nam....Từ đó làn sóng người miền Nam đi t́m tự do, băng rừng vượt núi sang Campuchia t́m đường đến Thái, hoặc thuê mướn ghe thuyền đánh cá chạy trốn trên Thái b́nh dương, đôi khi bị lường gạt mất hết vàng bạc, bị công an biên pḥng bắt đánh đập tàn bạo kết án phản quốc ra đi v́ kinh tế, nhưng không làm dừng bước người vượt biển dù sóng to gió lớn, gặp hải tặc Thái Lan hăm hiếp cướp của giết người, để rồi không biết bao nhiêu người bị chôn vùi dưới ḷng đại dương.
Nối lại nhịp cầu ngăn cách Đông Tây
Phong trào vượt biên sôi động nhất vào năm 1978, 1979, Những thuyền nhân Việt Nam đến được các nước láng giềng tại Á Châu càng ngày đông hơn. Cao Ủy Tị Nạn kêu gọi các nước Tây phương thâu nhận người Việt tị nạn. Ngày 24 tháng giêng năm 1979 tiểu bang Bayern/ Bavaria nhận 150 người từ trại Manila sang định cư, sau đó các tiểu bang khác nhận thêm một số người của tàu Hải Hồng ở Phi Luật Tân (tàu nầy đi theo diện bán chính thức). Thảm trạng của người vượt biển làm chấn động lương tâm Thế giới Cao Ủy Tỵ Nạn UNHCR (Unitet Nations High Commissioner for Refugees) kêu gọi các quốc gia tự do trên thế giới hăy mở ṿng tay nhân đạo để đón nhận người Việt tị nạn
Ngày vui thống nhất Đông Tây
Ḷng nhân đạo:
Tại hội nghị Genève vào tháng 6 năm1979 tổng thư kư Guenter van Well thay mặt chính phủ Đức đồng ư thâu nhận 10.000 người tị nạn Việt Nam, (số người của tàu Hải Hồng và các trại tị nạn Á Châu), các tàu buôn mang cờ Đức được phép cứu vớt thuyền nhân trên biển. Dr.Ruppert Neudeck (**) vận động các nhà văn, nhà báo, chính trị giånhư Heinrich Boell (1917-1985) giải thưởng văn chương Nobel 1972, Martin Walser, Gunter Grass (giải Nobel 1999), Hilde Domin, Dieter Wellershoff, Carl Amery(chủ tịch Hội văn bút 1989-1891) Franz Alte , Matthias Walden, Wener Hofer, Carola Stern, Akfred Biolek và Kabarettisten, Dieter Hildebrandt, Helga Schuchardt (FDP), Norbert Blum (cựu bộ trưởng lao động), Elmar Pieroth, Matthias Wissmann (CDU), Volker Neumann, Ootergetelo (SPD) vv..(3)
Ngày 24.07.1979, trong chương tŕnh truyền h́nh „Report Baden Baden“ do ông Franz Alte điều khiển, các ông Walter Bargatzky, tổng thư kư của Hồng Thập tự Đức và Dr. Rupert Neudeck nói về tŕnh trạng thuyền nhân Việt Nam và kêu gọi thành lập „ Một Con Tàu Cho Việt Nam“ Tính đến ngày đến ngày 27.07.1979 chương tŕnh này nhận được 1 triệu 2 DM ủng hộ vào trương mục của Hội Hồng Thập Tư „ Hiệp Hội Bác Sĩ Không Biên Giới “ gởi các Bác sĩ và Y tá theo giúp con tàu hoàn toàn thiện nguyện
"Một Con Tàu Cho Việt Nam" ra khơi:
Cap Anamur chính thức ra đời ngày 09.08.1979 khi con tàu mang tên Port de Lumière" từ hải cảng Kobe Nhật Bản ra khơi trên đường hướng về biển đông. Tàu Cap Anamur hoạt động đến 26.6.1982, cứu vớt 8.572 người, đưa vào các trại tị nạn Sem Bawang (Singapor), trại Palawan (Phi luật Tân), trại Galang (Indonesia) tạm trú một thời gian ngắn chờ định cư Tây Đức hoặc đến các đệ tam quốc gia trên thế giới. Tàu Cap Anamur hoạt động 22 tháng, mỗi tháng tốn 400 ngàn DM, theo tuần báo Stern tính, cứu một thuyền nhân tốn khoảng 1.075DM (4).
Con tàu ra khơi kéo dài cả tháng, hay vài tuần lênh đênh trên biển, chạy dọc theo hải phận quốc tế hay vào hải phận Việt Nam để cứu vớt người, có trực thăng bay t́m ghe vượt biên, chụp h́nh và cảnh cáo hải tặc Thái đánh cướp thuyền nhân, ném người xuống biển. Cap Anamur 1 vớt hơn 22 chuyến (được tính thứ tự từ Cap Anamur 1 đến 5 vào cảng Singapor), Cap Anamur 6 vào Galang. Cap Anamur ngưng hoạt động, về lại Hamburg lúc 12.30 ngày 26.7.1982 trên tàu có 287 thuyền nhân được hàng ngàn người Việt-Đức đón tiếp, quốc ca Việt Nam được hát dưới rừng cờ vàng. Bốn năm sau con tàu (Cap Anamur 2) tiếp tục ra khơi, dù không được tiếp tục ủng hộ như lần đầu . Bởi v́ „nhiều người ra đi không phải v́ lư do chính trị, gởi trẻ em vượt biên mong được bảo lảnh cả gia đ́nh đoàn tụ định cư thời gian ngắn du lịch Việt Nam có người bị pḥng ngoại kiều, cảnh cáo hay thu hồi quyền tị nạn.“
Trong 5 tuần lễ hoạt động từ 03.3.1986, tàu Cap Anamur đă cứu được 88 ghe, sau đó tàu chạy qua kinh đào Suez (Kinh nầy mở cưả từ 17.11. 1869), biển địa trung hải, mang theo 357 người về cảng Hamburg. Số người này được phân phối cho các tiểu bang. Tháng 4 năm 1987 Cap Anamur 3 lại ra khơi, cứu 14 thuyền tổng số 905 người, được Pháp và các quốc gia khác thâu nhận. Cap Anamur chấm dứt mọi hoạt động vào ngày 22.7.1987. Tổng kết thuyền nhân được vớt 9.507 người Con tàu mang tên „Mary Kingstown“ mang cờ vương quốc Monaco, được xem là (Cap Anamur 4) hoạt động trên biển đông, chỉ cấp nước, thực phẩm, thuốc men, ngăn ngừa bớt nạn hải tặc Thái lan. Ủy Ban Cap Ananur ngày nay vẫn hoạt động giúp các nước nghèo đói, chiến tranh tai nạn thiên tai. Ông Dr.Ruppert Neudeck không c̣n làm Chủ tịch Uỷ Ban Cap Anamur, nhưng ông tiếp tục chương tŕnh Mũ Xanh giúp dân nghèo ở cao nguyên Việt Nam.
Thuyền nhân hội nhập:
Thuyền nhân tị nạn được phân chia định cư theo từng tiểu bang, học Đức ngữ từ 8 đến 10 tháng, được hướng dẫn t́m việc làm hoặc tiếp tục học nghề, muốn thi vào các đại học, được hội Otto Benecke Stiftung cấp tiền học thêm 8 tháng Đức ngữ .
Người tị nạn kể cả đoàn tụ gia đ́nh (vợ chồng, trẻ em dưới 18 tuổi làm thủ tục bảo lănh gia đ́nh). Bộ ngoại giao Đức can thiệp với chính quyền Việt Nam cho phép số người đoàn tụ gia đ́nh trong ṿng vài năm, tiền vé máy bay ăn học được chính phủ giúp đờ
Nhiều Hội Đoàn ra đời sinh hoạt, những năm đầu các báo được xuất bản như Độc lập, Viên Giác, Dân Chúa, Nhịp Cầu, Giao Điểm, Vượt Sóng, Sinh Hoạt Cộng Đồng vv... và sau đó ra đời nhiều Bản Tin, Báo của các Hội Đoàn, luôn nêu cao tinh thần đấu tranh chống cộng, tranh đấu tự do cho Việt Nam. Hằng năm vào ngày 30 tháng 4, người tị nạn thường về Bonn biểu t́nh tham dự đêm không ngủ, thảo luận và tưởng nhớ quê hương do các hội đoàn tổ chức. Người tị nạn tích cực ủng hộ các phong trào đấu tranh để ước mong có ngày quang phục quê hương, nhưng không tránh khỏi vài trường hợp chia rẽ thiếu đoàn kết làm mất niềm tin. Sau này khi có phong trào du lịch Việt Nam, người Việt tại Đức trở về thăm gia đ́nh và thân nhân nên tinh thần đấu tranh có vẻ sút giảm nhiều. Tập thể Cựu chiến Sĩ VNCH tại Đức làm Đại Hội Toàn Quân vào ngày 26.6 2004 để thể hiện tinh thần trách nhiệm và đoàn kết của người Việt rời bỏ đất nước v́ Tự Do và Dân Chủ, cùng giương cao Ngọn Cờ Chính nghiă Dân Tộc.
Theo luật nhập quốc tịch Đức, người ngoại quốc sống từ 7 năm ở Đức, có công việc, thông hiểu ngôn ngữ được phép nợp đơn xin nhập tịch, và phải thi hỏi về luật căn bản, viết chính tả (tùy theo tiểu bang). Muốn nhập tịch phải từ bỏ quốc tịch gốc. Đây là vấn nạn của Việt, người tị nạn Việt Nam phải liên lạc sứ quán cộng sản. Thời gian chờ đợi giấy từ bỏ quốc tịch thường kéo dài đến 14 tháng hay lâu hơn, phải trả 12% tiền lương đă trừ thuể Đôi khi gặp khó khăn, người tị nạn phải đến sứ quán xếp hàng chờ đợi trả tiền nhận giấy ( từ năm 2001 Chính phủ chấp nhận quốc tịch đôi)
Bằng cấp phải dịch ra tiếng Đức kèm theo bản chính, gởi đến cơ quan công nhận (Zeugnisanerkennungsstelle) sắp loại (văn bằng không gởi công nhận, th́ không có giá trị). Tú tài trước 1975 tưng đương tú tài Pháp, phải qua kỳ thi Đức ngữ và toán, học dự bị đại học, sau đó chọn các phân khoa (tùy theo mỗi tiểu bang), bằng phổ thông sau 1975 được xem tŕnh độ lớp 10, phải vào trung học, học thi tú tài nhanh lắm phải mất 3 năm (nếu đă học đại học được xem như tú tài trước 75). Các Linh Mục được phép tiếp tục làm việc, ngoài ra dù tốt nghiệp Kỷ sư, Bác sĩ , Luật Sư đều không được công nhận, phải học lại một số học tŕnh. So sánh với hệ thống giáo dục tại Hoa kỳ, Úc và các quốc gia khác, người tị nạn lớn tuổi có các nghề như trên may mắn hơn người tị nạn tại Đức.
Cộng đồng người Việt định cư tương đối khá ổn định và ḥa nhập vào cuộc sống, thường kinh doanh về nhà hàng, các quán ăn nhanh, thực phẩm Á châu Thế hệ thứ hai trưởng thành theo học các đại học nổi tiếng ra trường với học vị cao xuất sắc, hoặc theo học các ngành nghề trở thành những chuyên viên kỷ thuật giỏi như người bản xứ, sinh hoạt gia đ́nh cha mẹ nói tiếng Việt với con cháu, tiếng Việt được tồn tại thật đáng hảnh diện.
Cựu sinh viên Việt Nam:
Khoảng hơn 1.000 sinh viên du học từ thời Việt Nam Cộng Ḥa, nếu trính đến 30-4-75, phần nhiều chưa xong học tŕnh, được ở lại tiếp tục học. Một số sinh viên, trước đây nghe cộng sản Hà Nội tuyên truyền gia nhập „Hội Đoàn Kết „, được sứ quán (Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa) giúp đở thành phần này sau ngày 30.4.75 về thăm quê „mừng ngày giải phóng“ trong lúc người miền Nam liều mạng sống chạy trốn khỏi „thiên đường“ cộng sản. Tờ báo Đất Nước cơ quan tuyên tuyền cho đảng cộng sản „ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản“ (Sinh viên Việt Nam du học tại Tây Đức ảnh hưởng phong trào phản chiến và được cộng sản tuyên truyền, giúp đỡ. Sau năm 1972 chính quyền không cho sinh viên Việt Nam du học Tây Đức . Tại sao sinh viên theo CS ? lỗi đó do nhân viên ngoại giao Đại sứ của Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) thiếu trách nhiệm với họ, nhiều Sinh viên xuất thân từ gia đ́nh làm việc trong chính quyền miền Nam, nhưng họ hoạt động cho CSVN !)
Sau năm 1975 những người này về Sai G̣n, bị chính quyền giữ lại học tập chính trị 3 ngày để đả thông tư tưởng „cách mạng“ Đối diện xă hội thực tế nghèo khó và t́nh trạng đàn áp phủ phàng tại quê nhà, mà trong đó đôi khi gia đ́nh họ cũng bị đánh tư sản, bà con thân tộc bị tập trung cải tạo, nên khi trở lại Đức có người quay về với cộng đồng người Việt tị nạn...Nhưng cũng c̣n nhiều người v́ quyền lợi tiếp tục con đường xưa với „Hội Đoàn Kết“ sống riêng rẽ, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động cho CS. Họ tổ chức sinh nhựt ông Hồ, hay tổ chức những buổi văn nghệ giao lưu văn hóa nhằm tuyên truyền đánh bóng cho chế độ cộng sản, đều bị người tị nạn chống đối Người Việt tị nạn (boat people) luôn nêu cao lư tưởng chống cộng, tẩy chay thành phần thân cộng sản.
Những thập niên về trước chính quyền CS Việt Nam c̣n bế môn tỏa cảng, thành phần thân cộng nầy thường về nước, cơ hội tốt kiếm tiền buôn bán, chuyển tiền ăn lời, móc nối mang đồ cổ ra bán nước ngoài hoặc làm thông dịch cho các phái đoàn của cộng sản...Cộng sản đổi mới theo kiểu Liên Sô, cơ hội ngàn năm một thuở, họ bắt tay hoạt động muốn về nước đầu tư, làm cố vấn mong „ăn trên ngồi trốc“ nhưng lại không chen chân được với đám tư bản đỏ (thành phần nầy được xem như nhân vật Lă Bố trong truyện Tam Quốc Chí).
Nước Đức thống nhất ĐôngTây, những thanh niên nam nữ đi lao động „xă hội chủ nghiă „ Chạy sang vùng đất phiá Tây xin tị nạn, không thông ngôn ngữ .. Thành phần cựu sinh viên nấy, lợi dụng cơ hội đến giúp đở, để lôi kéo đồng hương làm vây cánh, có người lợi dụng cơ hội nầy làm tiền như khai thuế, thông dịch giấy tờ để trục lợi ... vv Họ sinh hoạt với chiêu bài „không làm chính trị, chủ trương xây dựng t́nh đồng hương, trong tinh thần tương thân tương ái, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ thể thao..“ ngay cả vấn đề sinh hoạt Tôn giáo nếu nh́n qua th́ nghe rất hay rất đẹp.! Bề trái của nó chủ trương „không làm chính trị „ để ru ngủ người thiếu lập trường không tham gia biểu t́nh chống chính quyền Việt Nam.
Người Việt tị nạn cộng sản không phải ai cũng ôm cái qúa khứ của ḿnh trước 1975, mọi người đều hội nhập và xă hội mới đi cày ngày hai buổi để trả nợ nhà, nợ áo cơm vv...nhưng không phải v́ cuộc sống vật chất để rồi đi quên vấn đề chính tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi ?? Người tị nạn không chấp nhận chế độ cộng sản, không tiếp tay sinh hoạt với bọn tay sai. chúng ta từng là nạn nhân của chế độ độc tài, phải đau ḷng rời bỏ quê hương. không làm chính trị nhưng đấu tranh chính trị như : đ̣i hỏi tự do Tôn giáo và Tự do dân chủ cho Việt nam. Chủ trương không làm chính trị ở đây là không chống lại chế độ cộng sản Việt Nam. Đúng như chủ trương cuả chế độ Hà Nội „Việt kiều là thành phần không thể tách rời khỏi đại bộ phận dân tộc..“
Thành phần du học theo có kiến thức từng sống lâu trên đất nước tự do dân chủ nhưng vẫn hoạt động cho CS chúng ta nghĩ ǵ về họ ? Nhưng có một số cựu sinh viên không theo cộng sản, là Giáo sư đại học, Bác sĩ, kỹ sư trưởng các ngành chuyên môn sinh hoạt gắn bó với cộng đồng người Việt tị nan. Vấn đề đấu tranh cho tự do và vận động của cộng đồng người Việt Nam tị nạn tại Đức cũng như thế giới. Giải Nhân Quyền Shalom 2004 của trường đại học Công Giáo ở thành phố Eichstaett–Ingolstadt thuộc tiểu bang Bayern / Bavaria đă thông báo trao giải thưởng Nhân Quyền cho Linh mục Nguyễn Văn Lư vào ngày 26.6.2004. Giải thưởng nầy đă từng trao cho ông Lech Walesa (Ba Lan năm 1983) ; Giáo sư Obiora Ike (Nigeria 1996; tổ chức People for Peace (Kenia 1995; tổ chức Open House (Irael / Palestine 2002). Tiền Giải thưởng nầy dùng để giúp cho „qũy tu sĩ Việt Nam“ nhưng giá trị về tinh thần th́ vô giá.
Nạn nhân chiến cuộc:
Trước 1975 Đức thu nhận số nạn nhân chiến cuộc, những người bị thương trong chiến tranh, được điều trị tại các bệnh viện từ Việt Nam, và chuyển sang điều trị tại các bệnh viện Đức, được bảo trợ cho học nghề và hưởng ưu tiên như người Đức tàn tật, đời sống họ được tôn trọng. Ngoài ra một số thiếu nữ tŕnh độ trung học được (bộ Cựu Chiến Binh) gởi sang học ngành y tá, nhân viên ngoại giao, thương măi, tu sĩ, tu nghiệp, du lịch... Sau 30.4. 1975 đều ở lại Đức.
Người Việt tị nạn ( khách thợ) từ Đông âu:
Từ năm 1990 khi chủ tịch Gorbatschow thay đổi chính sách cai trị Glasnost (cởi mở), Perestrojka (tái phối trí) th́ Liên Bang Nga Sô đổi mới toàn bổ Ngày 02.05. 1989 Ungarn mở cửa biên giới thông thương với Tây phương. Hàng ngàn người Đông Đức hướng về Budapest của Ungarn, chạy vào ṭa Đại sứ Tây Đức để xin tị nạn... Các nước Đông âu thay đổi chính sách cai trị, kéo theo sự sụp đổ thiên đường cộng sản. Đông và Tây Đức thông thương từ ngày 09.11.98 hơn 11 triệu người từ Đông (DDR) sang Tây thăm viếng, chính phủ (CHLBD) cho mỗi đầu người 100 DM. Các siêu thị bán sạch hàng tồn kho, đi tay không nhưng về tay xách, vai mang triểu nặng hàng hóa. Sau ngày thống nhất nưóc Đức thêm gánh nặng kinh tế, các hăng xưởng bên Đông lỗi thời, đưa đến bế tắc việc sản xuất, số người thất nghiệp gia tăng, người đi làm (bên Tây Đức) phải đóng tiền thuế „đoàn kết“ hàng tháng cho đến nay (2004) chưa chấm dứt, tiền thuế nầy để xây dựng lại miền đất phía Đông Hiện nay kinh tế Đức suy thoái khủng kiếp theo tuần báo Focus cuối tháng 5.2004 tổng kết, số tiền chính phủ bị thâm thủng 1 Bill. 336 Mrd.068 Mio. 888.Tsd. 888. Euro !!
Người Việt theo diện „lao động nghĩa vụ quốc tế “ tức là đi làm lao động trả nợ chiến tranh của cộng sản VN, dưới thời cộng sản Đông Đức (DDR) bị bóc lột tận xương tủy, họ không được học Đức ngữ đi làm tại các hăng xưởng, đều có thông dịch viên hay các đội trưởng (cai) do đảng viên cộng sản người Việt chỉ huy, lương tháng bị khấu trừ nợ nần ..c̣n lại hơn 100 Mỹ Kim. Sau khi mở cưả dân Đông Đức (DDR) sang Tây thăm viếng. Người Việt, nam, nữ lợi dụng cơ hội lúc giao thời bỏ trốn sang Tây, được người Việt tị nạn (boat people) giúp đỡ hướng dẫn các thủ tục xin tị nạn. Đây cũng là dịp may cho các chàng độc thân „chọn mặt gởi vàng“
Các nước Đông Âu đều có người Việt lao động hoặc du học sinh, t́m đường sang Đức tị nạn. 60 ngàn công nhân lao động xuất khẩu c̣n hợp đồng làm việc bên Đông (DDR) đứng trước hai ngă đường về hay ở Chính phủ bồi thường, mỗi đầu người lúc đó là 3.000DM để hồi hương. Phần lớn họ không muốn vể có một số người ở lại bán thuốc lá nhập lậu từ Đông Âu qua các đường dây mafia Tại các thành phố bên Đông như Berlin, Leipzig, Dresden bán thuốc lá kiếm khá nhiều tiền, mỗi ngày vài ba trăm Mỹ Kim, nhiều người trở thành „chủ nhân ông“ tạo nên nhiều băng đảng, thanh toán giết nhau. Suốt trong thời gian đó đă xăy ra nhiều vấn đề phức tạp đó là tệ nạn trong một tập hợp nhiều thành phần xă hội !! Báo chí, truyền h́nh đều loan tin về việc trên, gây ấn tượng xấu cho người Việt Nam nói chung. Thời gian ngắn các băng đảng này bị dẹp tan, các tội phạm giết người bị truy lùng, bị kết án chung thân khổ sai hay bị trục xuất. Một số khác chạy trốn sang các nước Đông Âu. Nh́n chung những người Việt là „tường nhân“ đến phần đất phiá Tây lập nghiệp khá thành công và hội nhập vào xă hội. nhưng tạp chí Cánh Én số 142 tháng 11&12 .2004 „Nước Đức và chúng ta „ trang 57 tác giả Michael Vơ đă tŕnh bày „Trong những buổi sinh hoạt cộng đồng ở West những lần họp mặt dều xảy ra những vụ ấu đả, đánh lộn, công kích chửi bới lẫn nhau…. số người Việt bên đông cũng không kém ngoài CS ư thức hệ, c̣n mang nặng trong tư tưởng, một lối sống kém văn hoá, thổ phỉ đă h́nh thành trong những người bên đông v́ hoàn cảnh cuộc sống bấp bênh, v́ những chuyện làm ăn bất chính thành những tập đoàn thổ phỉ, sống theo luật rừng, bất cần luật pháp, văn hoá, đạo đức nhân phẩm làm người…“
Sau khi hội đủ điều kiện về thời gian qui định, không phạm luật họ có thể làm đơn nhập tịch. Người Việt ở lại phần lớn trưởng thành, từng sống dưới xă hội cộng sản bị bóc lột, nên trên xứ tự do họ siêng năng làm việc. An cư lạc nghiệp, hàng năm họ trở về thăm nhà, bảo lảnh cho thân nhân qua Đức du lịch. Hoặc chính thức hoặc trả tiền cho các đường dây buôn người (mua vé từ Hà Nội sang các nước Đông Âu) t́m người kết hôn để được ở lại. Nhưng họ thường có sinh hoạt riêng rẻ, có thể họ dễ phù hợp hơn v́ cùng trưởng thành dưới chế độ Xă Hội Chủ Nghiă miền Bắc ? Chúng ta không phân biệt Bắc Nam Trung ! Nhưng bức tường vô h́nh biên giới Quốc Gia và Cộng Sản ? không thể một ngày có thể xóa bỏ được !!
Tuy nhiên có nhiều trường hợp lạm dụng, người Việt Nam đến Đức xin tị nạn chính trị, mang nhiều giấy tờ khác nhau khó điều tra trục xuất về nguyên quán (theo luật ngoại kiều). Chính phủ Đức đă mời phái đoàn công an Việt Nam sang cùng làm việc phỏng vấn xác nhận, được chính phủ trả tiền cho chính quyền Việt Nam (mỗi người 10 ngàn Euro) từ đó người Việt sau nầy đến Đức xin tị nạn bị từ chối . Hiện nay (2004) có khoảng 40.000 người VN thuộc diện không công nhận tị nạn chính trị chờ ngày tục xuất trở về quê hương dư luận báo chí : đây là „món hàng béo bổ“ cho phái đoàn công an Việt Nam được CHLB Đức mời làm việc để xác nhận lư lịch, địa chỉ . Để thực hiện Hiệp định nhận lại người Việt bị từ chối quyền tị nạn từ năm 1995, căn cứ theo hiệp định nấy những người bị từ chối quyền tị nạn sẽ bị trả về một cách danh chánh ngôn thuận .. Tuy nh́ên cũng có nhiều trường khác nhau, những người không được hưởng qui chế tị nạn, nhưng được chính phủ cho phép ở lại, dùng thông hành VN người Việt sau 1975 với tên gọi là „hộ chiếu Việt Nam“, sinh sống theo luật ngoại kiều dành cho khách thợ. Số người hưởng quyền tị nạn theo điều 51, trong thông hành Reiseausweis (Travel Document convention of 28 July 1951) có thể đi khắp nơi ngoại trừ đi Việt Nam, con cái sinh tại Đức mang Fremdenpass/ Aliens passport, hai năm gia hạn một lần.
Người Việt ở Đức định cư khoảng trên 100 ngàn người. Nhiều báo chí ra đời, các cơ quan ngôn luận Việt ngữ hoàn toàn tự do, không bị ai kiểm duyệt đục ḅ, cái khó về lương tâm người cầm bút, tự giới hạn những ǵ ḿnh viết với tính cách xây dựng, nhằm phát huy và bảo toàn Văn Hóa Việt Nam, không dùng ngoài bút để bêu xấu mạ lỵ, hay núp dưới bóng tự do tuyên truyền làm lợi cho cộng sản . Các tờ báo của anh em đi „lao động, du học sinh“, trong thời gian xin tị nạn, phát hành rất nhiều loại báo tố Cộng. Viết về đời sống của xă hội CSVN mà họ từng trăi qua tại miền Bắc, góp tiếng nói với cộng đồng Việt Nam hải ngoại, cùng đấu tranh đ̣i Tự Do, Dân Chủ cho Việt Nam. Người tị nạn miền Nam trong các sinh hoạt đều treo cờ vàng ba sọc đỏ một biểu tượng về tự do .
Các loại Nguyệt San một năm 6 hay 11 số bán hoặc tặng, được xuất bản phục vụ sinh hoạt cộng đồng : Dân Chúa Âu Châu, Viên Giác, Diễn Đàn Việt Nam Vietnam Forum, Bản Tin Đức Quốc, Dân Văn, Sinh Hoạt Cộng Đồng, Cánh Én...Hàng năm vào các dịp Tết Cộng Đồng Việt Nam, tổ chức tết mừng xuân hướng về quê hương. Ngoài ra các niệm Phật Đường, chùa Viên Giác thường tổ chức Tết, Đại lễ Phật Đản hay lễ Vu Lan. Đại Hội Công Giáo trong dịp lễ Hiện xuống thường tổ chức hằng năm vào tháng 5 tại Aschaffenburg qui tụ trên 3000 Tín đồ. Sinh hoạt của hai tôn giáo lớn của người Việt tại Đức là Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo, có hàng ngàn người về tham dự .
Dập-d́u tài-tử, giai-nhân.
Ngựa xe như nước, áo quần như nem.Sinh hoạt Thiên Chúa Giáo Việt Nam được các Ṭa Tổng Giám Mục giúp đỡ, có trung tâm sinh hoạt khang trang, giáo dân không phải quyên góp tiền (v́ tín đồ Thiên Chúa đóng thuế nhà Thờ).Thánh lễ lớn cử hành tại các nhà thờ bản xứ. Ngược lại tín đồ Phật Giáo (không bị đóng thuế), muốn có Chùa hay Niệm Phật Đường phải thuê nhà, hay xây Chùa Kinh phí đều do Phật tử khắp nơi hoan hỉ đóng góp. Người tị nạn Việt Nam luôn phát huy văn hóa, đấu tranh tự do dân chủ cho Việt Nam, tham gia các công tác lạc quyên giúp đỡ Đồng bào bên quê nhà bị thiên tai bảo lụt, cứu giúp các thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .Thuyền Nhân Việt Nam có cuộc sống tự do hôm nay là nhờ con tàu nhân đạo Cap Anamur cứu vớt, mong đừng lăng quên ơn những ân nhân đă góp tiền, thuê mướn tàu cứu giúp ḿnh trên biển đông trong những ngày lênh đênh vô định .!! Cuối cùng chúng ta cũng đừng quên bổn phận của cha anh phải giải thích cho con em biết, tại sao chúng ta phải đứt ruột rời bỏ quê hương sau ngày 30/4/ 1975 dù Việt Nam đă thống nhất!!!
Ghi chú:
**/ Tiến sĩ Rupert Neudeck sinh 14.5.1939 tại Danzig cùng quê với nhà văn Guenter Grass và Lech Waleså Lúc lên 6 tuổi là nạn nhân cùng mẹ và bốn người em chạy trốn Hồng quân Nga (cha bị bắt vào quân đội).Thấy người Việt vượt biển bằng những thuyền nhỏ để chạy trốn chế độ cộng sản, làm ông hồi tưởng lại cuộc đời đau khổ trăi qua
Dr. Rupert Neudeck là ân nhân của người Việt Nam, ông không phân biệt quốc gia, tôn giáo, chính trị, chủng tộc, nơi đâu có khổ đau, nghèo khó nơi ấy có sự hiện diện của ông. Năm 1981 thêm chương tŕnh "Reis fuer VietNam" 1.000 tấn gạo được hiệp hội bác sĩ không biên giới (Komitee Not- Aerzte) chở đến cứu trợ bảo lụt vùng Thanh Hóa, giúp trang bị các bệnh viện. Dr. Neudeck với ḷng bác ái cao vời vợi, trong sáng như một v́ sao . Cuối năm 2002 ông Dr. Neudeck đă xin từ chức Chủ Tịch Uỳ ban Cap Anamur v́ tuổi đă ng̣ai 62
1/ Die Flucht Der Spielgel số 13 trang 36 -60
2/ Das Volkschreibt Geschichte Tage, die wir nie vergessen( Berlin Illustrirte Sonderausgabe 1989)
3/ Die letzte Fahrt der Cap Anmur 1 Rupert Neudeck ( Herderbucherei)
4/ Rupert Neudeck Die Menschenretter von Cap Anamur ( C.H.Beck Munchen)
Universal Lexikon ( Faktum)
Zeitbild Die goldenen zwanziger Jahre( Ueberreuter)
Berlin mit Potsdam ( Freude )