Tiểu Sử

Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng

 


Vương Hồng Anh


 

Theo nghiên cứu của nhà quân sử Vương Hồng Anh, tiểu sử Tướng Ngô Quang Trưởng như sau:

“Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, ra trường với cấp bậc Thiếu úy

vào tháng 6/1954. Từ giữa năm 1954 đến tháng 6/1966, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù qua các

chức vụ trung đội trưởng, đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Tham mưu trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn

Nhảy Dù.

Được thăng cấp thiếu tá vào năm 1964, cấp trung tá (năm 1965) khi đang giữ chức Tiểu đoàn trưởng;

thăng cấp đại tá (năm 1966) khi giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù.

Tháng 6/1966, được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Thăng cấp Chuẩn tướng vào

tháng 2/1967, thăng cấp Thiếu tướng tháng 5/1968.

Đến tháng 8/1970, Tướng Trưởng rời Sư đoàn 1 Bộ Binh, về miền Tây giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4/

Quân khu 4 và được vinh thăng Trung tướng vào tháng 11/1970.

Đầu tháng 5/1972, trong cuộc chiến mùa hè 1972, Trung tướng được Tổng thổng Nguyễn Văn Thiệu

cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 1/Quân khu 1. Sau khi Quân đoàn 1 triệt thoái khỏi miền Trung vào

cuối tháng 3/1975, Trung tướng Trưởng được bổ nhiệm giữ chức Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Quân

ực VNCH đến ngày 29/4/1975.”

Trong khi đó, bản tin đài truyền h́nh SBTN ghi chi tiết về một số chiến công của Tướng Ngô Quang

Trưởng như sau:

“...Ông được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân Cộng sản và tái chiếm Thành cổ Quảng

Trị năm 1972. Ông tốt nghiệp Khóa 4 Liên trường Vơ khoa Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1954, ra trường

được bổ nhiệm đại đội trưởng đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ

lực lượng B́nh Xuyên và được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận. Năm 1963, ông thăng cấp

đại úy. Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Cùng năm 1964, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc

quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngăi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải

Phóng Miền Nam, tịch thu 160 súng đủ loại. Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng

vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy Bà Rịa, căn cứ của Công

Trường 7 của Cộng sản Bắc Việt. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho hai Trung Đoàn

Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng

thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm chức vụ

Tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù.

Đến cuối năm 1965, Trung tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù. Năm

1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy

của tư lệnh Quân đoàn I là thiếu tướng Hoàng Xuân Lăm. Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh do

ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M-113, tăng phái Tiểu Đoàn 9

Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhă chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du

kích địa phương thuộc mặt trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau

trận này ông thăng cấp chuẩn tướng. Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, tăng

phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù do Trung tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đă

pḥng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2 năm 1968. Các đơn vị này đẩy

lui các đơn vị xung kích của Quân Giải phóng miền Nam, gồm Đoàn 5 các Tiểu Đoàn K4A, K4B, Tiểu đoàn 12

đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế, Đoàn 6 gồm các Tiểu Đoàn K41, K6, Tiểu đoàn 13 đặc công nội thành

Huế, các Đại đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường một đại đội súng pḥng không 37 ly, hai đại đội du kích
quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế, và hai Tiểu Đoàn 416, 418 thuộc Đoàn Cù Chính

Lan tức Đoàn 9. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đă giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn

vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm chức vụ

tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV. Năm 1970 ông được thăng cấp trung tướng.

Hai năm sau khi Cộng sản mở cuộc chiến mùa hè đỏ lửa, lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng ḥa tại Quân khu

I đă bị nhiều tổn thất. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân

khu I thay thế tướng Hoàng Xuân Lăm.

Quân khu I được tăng cường toàn bộ lực lượng tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng ḥa và được sự yểm

trợ tầm xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất bị chiếm

phía Nam sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị Cộng sản Bắc Việt và quân Giải phóng miền Nam.

Đại tướng Norman Schwarkopf của Hoa Kỳ trong cuốn hồi kư viết vào năm 1992 đă ca tụng tướng Trưởng

như một anh hùng trong trận đánh tại thung lũng Ia-Drang.

Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và sống cùng với gia đ́nh tại vùng tiểu bang Virginia ngay bên cạnh

thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Ông từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối không trả lời các cuộc phỏng vấn của báo

chí về những ngày cuối cùng, và không xuất hiện ở những chỗ đông người, nhưng luôn luôn được các cựu

chiến sĩ kính trọng v́ được mệnh danh là một trong 4 vị tướng thanh liêm trong sạch, qua câu "Nhất Thắng,

nh́ Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng"...”

Vương Hồng Anh

 V́ Sao Tôi Bỏ Quân Đoàn I